15.Allen Leepa – Geurnica của Picasso

Giới thiệu:

Có lẽ Picasso là một nghệ sĩ sáng tạo xuất chúng của thời đại chúng ta, đồng thời là nhân vật có nhiều ảnh hưởng nhứt. Sự nghiệp của ông đã minh họa cho toàn bộ lịch sử hội họa hiện đại. Ông có hiểu biết tinh tường đối với mọi phong cách sáng tác và đã đóng góp vào mọi trào lưu nghệ thuật của thế kỷ hai mươi. Hiện nay, ở độ tuổi tám bảy mươi bảy, dường như sinh lực sáng tạo của ông vẫn tràn trề như thuở hai mươi. Tại tư gia nằm trên bờ biển Địa trung hải, ông vẫn tiếp tục vẽ tranh, điêu khắc và làm đồ gốm bằng tất cả niềm say mê và lòng yêu đời như ngày nào.

Cách đây khoảng hai mươi năm, một biến cố bi thảm trong cuộc nội chiến Tây-ban-nha đã đưa đến việc Picasso sáng tác một số bức tranh và bản khắc mang một thông điệp xã hội mạnh mẽ. Khi đó, ông là một người theo phe Cộng hòa có nhiều hoạt động tích cực và được giao vẽ một bức bích họa vào năm 1937 diễn tả những nỗi kinh hoàng của cuộc không tập do bọn phát-xít thực hiện tại một làng Guernica nhỏ bé. Bức họa theo trường phái lập thể siêu thực này của ông (hiện đang được bày trong Bảo tàng viện Mỹ thuật Hiện đại ở New York) là một trong những ví dụ được bàn luận rộng rãi và gây nhiều ấn tượng nhất của nền mỹ thuật đương đại phản kháng xã hội.

Sanh tại Malaga, Tây-ban-nha, vào năm 1881, Picasso bắt đầu vẽ lúc lên mười. Khi được mười bốn tuổi, gia đình ông chuyển đến Barcelona, nơi ông có cuộc triển lãm đầu tiên năm mười sáu tuổi. Có thể dễ dàng chia cuộc đời ông thành hai giai đoạn; giai đoạn đầu – Giai đoạn Xanh (1901 – 1904) – ông chịu ảnh hưởng của các họa sĩ Pháp theo trường phái ấn tượng, đồng thời bị tác động bởi nhiều hoàn cảnh bất hạnh trong cuộc sống của chính mình; Giai đoạn Hồng (1905 – 1906), ông chuyển sang các đề tài nhẹ nhàng – anh hề trong kịch, anh hề trong gánh xiếc, nghệ sĩ hát rong – và màu sắc trong tranh cũng trở nên êm dịu hơn. Năm 1906, ông gặp Matisse và đã say mê trường phái sơ khai (primitivism) mới lạ trong suốt hai, ba năm liền. Năm 1909, chịu ảnh hưởng của Cézanne, ông đã, cùng với Braque, phát triển kỹ thuật và nguyên lý lập thể, những điều mà ông áp dụng cho đến năm 1923. Khuynh hướng Lập thể và sự đóng góp của Picasso vào trào lưu này sẽ được bàn luận đầy đủ trong nhiều bài viết của cuốn sách này.

Bài mô tả và phân tích họa phẩm Guernica của ông sau đây được trích từ The Challenge of Modern Art (1949) của Allen Leepa, giảng sư phân khoa mỹ thuật của viện đại học Michigan. Leepa sinh năm 1919 tại New York, theo học Trường Mỹ thuật Hoa Kỳ ở thành phố này, và trường Sorbonne và Grande Chaumière ở Paris. Ông đạt được nhiều văn bằng của đại học Columbia, là thành viên Ủy ban Giáo dục Nghệ thuật của Bảo tàng viện Mỹ thuật Hiện đại, và có nhiều tranh được triển lãm tại Philadelphia, Burmingham, Detroit, Madison, Wisconsin. Trong The Challenge of Modern Art, Leepa luận bàn về các danh họa và trào lưu trọng yếu của thời đại chúng ta; chương về Guernica của ông đã nêu rõ loại phân tích mà sự hiểu biết thích đáng về một họa phẩm cần phải dựa vào.

________

Trong bức tranh mà tôi đang vẽ, bức mà tôi sẽ đặt tên là Guernica, và trong tất cả các tác phẩm gần đây, tôi luôn bày tỏ một cách rõ ràng sự ghê tởm đối với giới quân quyền, những kẻ đã nhấn chìm Tây-ban-nha trong sự khổ đau và chết chóc…[1]

I

Pablo Picasso, một trong những họa sĩ hiện đại hàng đầu của thế kỷ hai mươi, đã tuyên bố như thế vào tháng Năm năm 1937, khi vẽ bức bích họa nổi tiếng Geurnica. Ngày nay, bức bích họa này cũng tràn đầy ý nghĩa như nó đã từng vào năm 1937, bởi vì nó phát ngôn bằng một ngôn ngữ tượng trưng cho thời đại của chúng ta. Picasso đã cảm nghiệm về đề tài này một các mãnh liệt, đồng thời thực hiện nó một cách hăng say cho đến nỗi đã hoàn tất bức bích họa chỉ trong khoảng thời gian hơn một tháng. Đành rằng ông được giao vẽ tác phẩm này từ tháng một, nhưng chưa đến ngày một tháng năm, hai ngày sau khi thị trấn Guernica của người Basque bị các oanh tạc cơ của người Đức hủy diệt theo sự yêu cầu của tướng Franco, ông đã bắt đầu tiến hành sáng tác bức bích họa nói trên.

Bức bích họa được diễn giải theo nhiều cách. Về cơ bản, nó bày tỏ sự kinh ghét chiến tranh, đồng thời được thực hiện nhằm hai mục đích: một mặt, nói lên sự hủy diệt mà bạo lực và sự tàn độc gây ra; và mặt khác, cho thấy sự chiến thắng của người dân Tây-ban-nha đối với các thế lực phản cách mạng, hay cái phương thức mà nhờ vào đó sự tàn độc có thể bị trừ khử trong xã hội.

picasso_x.2009.1279_m

Đầu ngựa, phác họa cho Geurnica, 1937

Bức bích họa được bố cục thành ba phần: hình tam giác ở chính giữa và các hình thẳng đứng ở hai bên. Phía trái là tập hợp các hình, gồm có hình người đàn bà đang ôm đứa bé đã bị chết, ăn khớp với đường cong của hình con bò. Phần chính giữa, một con ngựa, bị mũi giáo đâm xuyên, đang đứng với chiếc đầu vươn về phía trước. Bên phải con ngựa là hai người đàn bà. Người phía trên đang tựa vào một khung cửa sổ; và chỉ có cái đầu và cánh tay cầm chiếc đèn vươn ra của bà ta là thấy rõ. Người đàn bà đang quỳ phía dưới là một bộ phận của phần bên phải của hình tam giác lớn ở giữa bức tranh, mà góc phía trái của tam giác này là cái đầu và cánh ta soãi ra của người chiến binh nằm sóng soài trên mặt đất. Phía bên phải của bức tranh là một nhân vật vươn hai tay lên trên.

Chúng ta nhìn thấy các nhân vật đang chịu đựng những cơn đau đớn, chẳng hạn như người đàn bà và đứa bé, con ngựa bị mũi giáo đâm xuyên qua bụng và một kẻ bất lực phía ngoài cùng bên phải, trong khi các nhân vật khác đang tràn ngập nỗi kinh hoàng, lo lắng hoặc hoang man. Các hình bị chia cắt, các góc nhọn, tiết điệu ngắt quảng của sự phân chia và các đường nét tương phản này đã góp phần tạo nên hiệu ứng hủy diệt. Tất cả các hình ảnh ấy đều liên quan với nhau trong cảnh tàn hoại, ngoại trừ con bò, đứng một mình, được nhấn mạnh bằng sự mở rộng của mảng tối xung quanh nó. Đó là “nhân vật” điềm tỉnh và uy nghi nhất trong bức bích họa; nó quay lưng khỏi bối cảnh đang diễn ra, nhìn một cách lặng lẽ về hướng người xem.

6433a0e48dd5af8deaf7fe70da848429

Bố cục, phác họa cho Geurnica, 1937

Hành vi của người và các con vật diễn ra trong một khu vực khép kín giống như nhà kho, được thắp sáng bằng chiếc bóng điện đang soi sáng những hình ảnh bên dưới và tạo nên những phần bóng tối sắc cạnh trên các hình ảnh ấy, trong khi đặt các vùng khác của bức tranh trong một vùng khá tối. Sự ưu trội của các hình màu đen mờ ảo đã đưa cảm giác bi thảm vào toàn bộ họa phẩm. Cảm giác này càng được khuếch đại thêm nữa nhờ vào sự loại bỏ màu sắc — bức tranh được vẽ chỉ với ba màu đen, trắng và xám.

Tất cả những điều này có nghĩa là gì? Người họa sĩ đang cố gắng nói lên điều chi? Có hai lối suy diễn cho vấn đề này, một dựa trên lời tuyên bố của Picasso vào năm 1945, lời tuyên bố mà sau đó ông đã phủ nhận một phần, và một do chính bức bích họa mang lại. Các lời giải thích này được định đoạt bởi việc con bò có phải là biểu tượng của sự tàn độc và con ngựa có tượng trưng cho sự nhân bản hay không, hoặc bởi việc con bò có là hình ảnh của nền cộng hòa Tây-ban-nha và con ngựa có là vật đại diện cho thế lực quân sự hay không. Bức bích họa có thể mang nhiều hơn một ý nghĩa, và người họa sĩ có lẽ đã có một hàm ý song trùng như thế khi sáng tạo. (Tuy nhiên, dường như có một ý nghĩa căn bản nào đó chạy xuyên suốt qua hai lối diễn giải này, bởi vì người đàn bà cầm chiếc đèn có thể đại diện cho cả nhu cầu lẫn sự chiến thắng của tự do và chân lý, vì lẽ rõ ràng bà ta là bản sao có tính chất biểu tượng của bức tượng nữ thần Tự do của chúng ta.) Yếu tố quan trọng nhất đối với mỗi người để có thể quyết định một ý nghĩa cho riêng mình là cái ý nghĩa ấy, đối với anh ta, có được hình thành một cách thuyết phục và lôi cuốn hay không, bởi lẽ trong một tác phẩm nghệ thuật, ý nghĩa có tính sáng tạo có tầm quan trọng hơn nghĩa đen. Ý niệm được tưởng tượng của người họa sĩ trong tác phẩm của mình là một phần không thể tách rời của hình ảnh được sáng tạo, đó là cái mang lại giá trị cho các nghĩa đen, và đồng thời tạo nên nội dung cho chính hình ảnh sáng tạo.

Lời tuyên bố của Picasso mà một lối diễn giải về bức Guernica có thể dựa vào được phát ngôn vào tháng ba năm 1945, không lâu sau ngày giải phóng Paris trong cuộc đệ nhị Thế chiến. Lời tuyên bố này được thực hiện để trả lời cho các câu hỏi về Guernica:

Không, con bò không phải là chủ nghĩa phát-xít, mà là sự tàn độc và tối tăm… con ngựa là hình ảnh của con người… bức bích họa Guernica có tính cách biểu tượng… phúng dụ. Chính vì vậy mà tôi đã dùng con ngựa, con bò, và nhiều thứ khác nữa. Bức bích họa là một sự diễn tả và giải pháp xác định cho một vấn đề, và đó là lý do tại sao tôi áp dụng chủ nghĩa tượng trưng.”[2]

Việc dùng hình ảnh bò và ngựa gợi đến trường đấu bò của người Tây-ban-nha, trong đó con ngựa là một nạn nhân bất lực của con bò hung hãn. Trong khi con bò đứng một mình và không bị phiền nhiễu ở phía bên trái của bức bích họa, thì con ngựa bị đâm những vết thương trí mạng và sắc diện của nó bộc lộ sự đau đớn khôn cùng. Nó bị sa vào hình tam giác lớn cùng với người chiến binh tử trận và người đàn bà quỳ. Có vẻ như ba nhân vật này đều là những nạn nhân. Phía bên trái, người đàn bà đang gào thét ngay dưới con bò là một hình ảnh tương phản với cảm thức ưu trội và độc ác của con bò.

guernica

Guernica, 1937

Tính tượng trưng của người đàn bà đang gắng sức một cách phù phiếm soi sáng khung cảnh bằng ngọn đèn thô sơ có lẽ được hiều như thế này: các ý tưởng và cảm xúc kiểu cũ không đủ để giải quyết vấn đề. Người đàn bà ấy tỏ ra bất lực, giống như chỉ sự tử tế và lòng nhân ái không thôi thì vẫn chưa đủ. Kết hợp với ý tưởng này là ý nghĩa của lối vẽ con ngựa bị đâm ở giữa bức tranh, một lối vẽ khiến người ta có thể liên tưởng đến giấy in báo và có thể tượng trưng cho sự tuyên truyền, cái thường làm cho nhân tính bị hiểu lầm và méo mó. Đây là lối suy diễn khoáng đạt về ý nghĩa của lối vẽ ấy, bởi vì chức năng chính yếu của nó có thể chỉ nhằm vào việc tạo ra một hiệu ứng về phương diện thị giác. Tuy nhiên, dẫu lối vẽ đó có được suy diễn là giống như giấy in báo hay không, thì ý nghĩa của nó cũng không có gì thay đổi: người đàn bà cầm chiếc đèn là biểu tượng của sự tự do. Con ngựa, tượng trưng cho một dân tộc đang tranh đấu mãnh liệt để tự giải phóng mình thoát khỏi tình trạng bế tắc, là hình ảnh của sự dốt nát, sự tuyên truyền hoặc các thế lực nghịch hành trong xã hội, những thứ trì hãm một dân tộc. Cuộc tranh đấu khắc nghiệt này của các nhân vật được giữ trong khuôn khổ của một cấu trúc thiết kế có tính chất đối xứng. Có vẻ như là, cho dù các nhân vật có tranh đấu trong khổ đau một cách mãnh liệt đếu đâu đi chăng nữa, thì họ cũng bị cầm giữ bởi những thế lực mà họ không thể nào thoát khỏi.

Nếu chúng ta theo đuổi cách suy diễn rằng sự dốt nát sẽ làm con người bị mù quáng, thì cái hàm ý khi đó sẽ là con người cần một nền giáo dục tốt đẹp hơn, cần một sự khai sáng triệt để hơn để không trở thành nạn nhân của sự ngu tối của chính họ, điều mà cuối cùng sẽ hủy diệt họ. Con người đã không thể tự giúp mình đương cự lại các thế lực độc ác một cách hữu hiệu hơn khả năng tự cứu của con ngựa trước sự tấn công của con bò. Vòng luẩn quẩn đã được đặt ra ở đây; giải pháp cho vấn đề không nằm nơi lòng tử tế, mà phải thông qua sự khai sáng. Cá nhân đã bóp méo cao độ cho đến nỗi anh ta không còn nhận biết cái gì là điều tốt đẹp cho anh ta, đồng thời sẽ tiếp tục là nạn nhân của các thế lực phá hoại cho đến khi nào anh ta thực hiện được hành vi tự giải thoát.

Lối suy diễn thứ hai, một lối suy diễn dường như có thể chứng minh một cách trọn vẹn hơn bằng chính bức bích họa, có lẽ hợp lý hơn. Con bò có thể tượng trưng cho sự chiến thắng của phe cộng hòa trước lực lượng quân sự được thể hiện bằng hình ảnh con ngựa. Các bằng chứng dùng để làm căn cứ cho ý tưởng này được trình bày như sau: ý nghĩa truyền thống của trận đấu bò đối với người Tây-ban-nha, những người mà con bò trong bức tranh làm đại diện, là sự can đảm và cao thượng; dường như Picasso đã đưa chức năng có tính duy linh của ngọn giáo vào thân con ngựa; ngọn đèn mà người đàn bà cầm ngay phía trên đầu ngựa có lẽ tượng trưng cho sự tự do; và người chiến binh cầm thanh gươm bị giết chết là hình ảnh của thế lực quân sự.

Năm 1947, khi một lần nữa trả lời các câu hỏi được gởi đến, Picasso đã tuyên bố:

Nhưng, con bò chỉ là con bò, con ngựa chỉ là con ngựa. Ngoài ra, cũng có một loại chim, một con gà hoặc bồ câu gì đó, trên bàn, tôi không còn nhớ nữa. Con gà chỉ là con gà. Lẽ cố nhiên, chúng đều là những biểu tượng… nhưng không nhất thiết rằng người họa sĩ sáng tạo ra chúng, những biểu tượng, trái lại có lẽ sẽ tốt hơn nếu như anh ta viết ra điều người ta muốn nói, thay vì vẽ nó. Nhất định là công chúng, những người xem, nhìn thấy trong con ngựa, trong con bò, những biểu tượng mà họ suy diễn, một khi họ hiểu chúng. Có nhiều con vật: những con vật này đều là những con vật bị thảm sát. Đối với tôi, thế là đủ; hãy để cho công chúng nhìn thấy điều mà họ muốn thấy.[3]

Câu trả lời này có vẽ nghịch lý so với câu trả lời trước đó của ông, nếu như nó không ủng hộ cho sự thật rằng, như ông đã từng nhiều lần nói rõ, ông tin tưởng mãnh liệt mỹ thuật không nên bị mô tả, phân tích hay hướng dẫn, mà nên được người xem cảm nghiệm trực tiếp. Sự phân tích mang tính tri thức thái quá thường trở thành cái thay thế cho cái ý nghĩa mà chỉ có tác phẩm nghệ thuật mới có. Mỹ thuật sẽ đánh mất ý nghĩa và trở thành một cái gì đó không phải mỹ thuật. Có lẽ vì căm ghét sự tri thức hóa tác phẩm mỹ thuật, và có lẽ vì tác phẩm mỹ thuật tự nó đã đa nghĩa, cho nên Picasso thích “ném” sự suy diễn về Guernica cho người xem — những kẻ, suy cho cùng, phải tự khám phá và cảm nghiệm nó. Thêm nữa, người họa sĩ không hề biết rằng mình đã biểu tả những ý tưởng và xúc cảm có tính chất vô thức, khi mang đến cho tác phẩm của mình các ý nghĩa trực tiếp và gián tiếp. Con bò, chẳng hạn, mà Picasso nhất mực không chịu rằng là hình ảnh của chủ nghĩa Phát-xít, mà chỉ tượng trưng cho sự tàn bạo, và ngoài ra cũng là con vật không thể được suy diễn thành cái thay thế cho nền cộng hòa Tây-ban-nha, lại có một chiếc tai nhọn giống hệt với huy hiệu trên nón của những tên phát-xít Ý của Benito Mussolini.

Trong văn hóa Tây-ban-nha, trận đấu bò tượng trưng cho sự bi thảm của đời sống; nó thay thế cho sự sống và cái chết, cho đam mê, cho nam tính và lòng quả cảm. Nơi đấu trường, người đàn ông dùng kỹ năng, sự không ngoan và lòng can đảm để chống lại sức mạnh và sự cuồng nộ của con bò; có một cuộc chiến một mất một còn giữa bò và người. Con bò trong văn hóa Tây-ban-nha tượng trưng cho loài can đảm và khỏe mạnh nhất trong tất cả các loài thú, vì thế luôn là đối thủ xứng đáng của con người. Trái lại, con ngựa, tương phản với quan niệm lý tưởng của chúng ta: loài thú cao quý nhất, bị xem là con vật yếu đuối, chỉ thích hợp cho việc bị bò húc.

Trong bản vẽ tiên khởi về Guernica, như đã được khám phá trong nhiều bản phác thảo trước đó, người đàn bà cầm ngọn đèn và con bò đều là những kẻ chiến thắng. Cả hai đều không nằm trong tình trạng mâu thuẫn với nhau, như trong bản khắc acid có trước của Picasso, họa phẩm Minotauromachy, trong đó người đàn ông đầu bò tìm cách che ánh sáng phát ra từ ngọn đèn trên tay của một đứa bé. Đúng hơn là, cả nền cộng hòa và nền công lý của người Tây-ban-nha đều chiến thắng. Dường như rất hợp lý khi cho rằng cả hai đại diện cho cùng một cứu cánh; con bò không chỉ là biểu tượng của nền cộng hòa, mà còn của sức mạnh.

Con ngựa bị ngọn giáo đâm xuyên, tuy nhiên không có một nhân vật nào trong bức tranh đâm ngọn giáo ấy. Người chiến binh tử trận đang cầm thanh kiếm gẫy, chứ không phải phần còn lại của ngọn giáo. Xem chừng như con ngựa là là một linh vật mà chính Picasso đã đâm vào như thể nhằm tiêu diệt nó một cách mầu nhiệm. Người chiến binh tử trận, hình ảnh của giới quân quyền Tây-ban-nha, đang cầm quân khí, hơn là cầm lưỡi kiếm của đấu sĩ bò tót. Bên dưới con ngựa, anh ta hoàn toàn chiến bại với võ khí trên tay, thanh kiếm, bị gãy.

Nhằm cũng cố thêm cho quan niệm con ngựa đại diện cho các thế lực độc ác, có lẽ là giới quân quyền, giới đã bị tự do và công lý đánh bại – trong một số bản phác họa của bức bịch họa, người đàn bà ngã người nơi cửa sổ đã cầm ngọn đèn một cách hân hoan ngay phía trên con ngựa.

Picasso, một người Tây-ban-nha, luôn luôn có mối liên hệ mang tính chất ý thức lẫn tiềm thức với các biến cố xảy ra tại nước này. Tính tượng trưng trong một họa phẩm, về mặt nguồn gốc, đều có tính ý thức lẫn tiềm thức. Và các biểu tượng ý thức có mối tương thuộc chặt chẽ với các ấn tượng tiềm thức. Xúc cảm mãnh liệt dồn vào các biểu tượng này có thể phần nào đó bị quy cho những thôi thúc mang tính tiềm thức của người họa sĩ và người thưởng lãm.

II

Những bản phác họa tạo nên tác phẩm Guernica đem đến cho chúng ta sự hiểu biết nào đó về phương cách tác phẩm này được hình thành. Bản phác họa thứ nhất, Guernica—Composition Study I, chỉ là sự trình bày sơ lược nhất ý tưởng của Picasso. Điểm đáng chú ý là chiều sâu của không gian xiên về phía bên trái, tương tự như bản phác họa cuối cùng của bức bích họa trước khi vẽ. Các mặt phẳng tạo nên sự chuyển động này đều song song với bề mặt bức vẽ và tạo nên nền tảng mang tính bố cục cho họa phẩm. Guernica—Composition Study II có hai cảnh, cảnh phía trên cho thấy những xúc cảm giống với bản phác họa thứ nhất, trong khi cảnh phía dưới trình bày nhiều hình riêng biệt lần đầu tiên được phác họa một cách rõ ràng, đồng thời có một sự nhấn mạnh vào mối quan hệ mặt phẳng tuyến tính giữa các hình. Guernica—Compostion Study III dường như đã minh chứng cho quan niệm không gian này, bởi vì các hình đều được đặt trên những mối tương quan đường thẳng có tính chất nhịp nhàng và giàu tưởng tượng, nhấn mạnh đến tính phẳng của bức vẽ. Trong hai bản phác họa kế tiếp, những bản phác họa hoàn thiện hơn và được thực hiện vào ngày một và hai tháng năm, Picasso đã chỉ ra một cách rõ ràng cách thức những biểu tượng được sử dụng. Bản phác họa đầy đủ thực hiện vào ngày chín tháng năm có nhiều hình hơn các bản trước; một cảm thức mạnh mẽ hơn về sự hủy diệt, một không gian giống như sân khấu, và sự gắn kết các hình ảnh trừu tượng và thực tế đã được hình thành: ánh sáng và bóng tối đã được đưa vào, đồng thời toàn bộ bức tranh đã mang một hiệu ứng bi thảm, chết chóc và hủy diệt.

Khi Picasso đang thực hiện các bản phác họa mang tính chất bố cục, và ngay cả sau khi ông đặt nét cọ đầu tiên cho họa phẩm của mình, Guernica, 1st state May 11, ông đã vẽ vô số bản phác họa của từng chi tiết riêng biệt của bức bích họa. Chẳng hạn như Hand with Broken Sword trình bày cánh tay của người chiến binh tử trận, một hình ảnh đã chuyên chở một cách biểu cảm sự đớn đau của người lính. Các ngón tay đã bện xoắn vào nhau không đúng vị trí khi nắm chặt cán gươm; toàn bộ bức phác họa được vẽ thật giản dị và đầy uy lực. Woman with Dead Child, bản phác họa được thực hiện ngày 28 tháng năm khi bức bích họa đang được tiến hành, đã dựng lại nỗi đau của người đàn bà đang ôm đứa con bị trúng tên. Bản phác họa này rất khác với bản người đàn bà và đứa con đứng bên dưới con bò trong bức bích họa. Giá trị về phương diện tình cảm và sáng tạo của người họa sĩ có thể được nhận thấy qua bản phác họa này và qua cái cách ông trình bày càm xúc của mình, khi thường xuyên thay đổi hình thức và nỗ lực bày tỏ xúc cảm một cách tận tuyệt. Picasso không hề sao chép bất cứ bản phác họa nào trong số này vào bức bích họa. Đúng hơn là, chúng đóng vai trò phương tiện phóng hiện cảm xúc, như thể ông cần chúng để phục phụ cho các mục đích khám phá và khơi động những cảm xúc ấy, đồng thời tự giúp mình trở nên quen thuộc với lối biểu tả tiềm tàng mà chủ đề gợi ra.

Trong bản phác họa đầu tiên, bố cục không gian xiên dần về bên trái theo chiều sâu, cùng lúc đó, một mặt phẳng tưởng tượng phía trước đã được hình thành. Các mặt phẳng cấu trúc trừu tượng đã giúp tạo nên mặt phẳng phía trước này, và đưa các hình nằm theo chiều sâu về gần với mặt phẳng. Hãu so sánh giai đoạn đầu này của Guernica với bản vẽ sau cùng để chú ý cách thức toàn bộ tác phẩm đã đồi thay. Trong bản vẽ cuối cùng, mọi diễn biến đều diễn ra trong nhà, con bò được đặt ở phía ngoài cùng bên trái, đều con ngựa thì ở phía trên cao, và đầu của người chiến binh tử trẩn được đặt hướng về cạnh của bức tranh. Cũng nên chú ý cách thức các hình được sửa đổi theo sự thay đổi trong ý đồ và phương pháp thể hiện của người họa sĩ. Trong bản vẽ cuối cùng, các mặt phẳng trừu tượng đã được nhấn mạnh. Khi khai triển bức vẽ này, Picasso đã làm việc trong những mảng lớn các màu đen, trắng và xám, mà một số trong các mảng lớn này đã biến đổi cùng với các hình đã được vẽ xong. Cùng lúc đó, các hình hoàn toàn mới cũng đã được khai triển. Ở đây, người họa sĩ đã sáng tác bằng một phác họa tổng thể, nhưng các hành động chỉnh sửa, khai triển và mở rộng luôn luôn được thực hiện trên đó.

III

Khi phân tích các chuyển động hai và ba chiều của bức bích họa, chúng ta thấy rằng các hình, kể cả hình tam giác lớn nằm ở giữa bức tranh, đã hướng không gian ba chiều xiên dần về chiều sâu từ trái sang phải theo chuyển động ngược chiều kim đồng hồ, Các hình gần nhất với người xem đều nằm bên dưới con ngựa và thông qua đó chúng ta được dẫn dắt vào bức tranh. Người chiến binh tử trận, con ngựa và mặt phẳng tam giác sáng bên phải của con ngựa, đã tạo ra chuyển động không gian xiên về chiều sâu. Chuyển động ngược chiều kim đồng hồ này được hình thành nhờ vào mặt phẳng cắt ngang thân ngựa, nhờ vào đuôi ngựa, đầu ngựa, cánh tay giữ chặt thanh kiếm, người đàn bà quỳ, mặt phẳng tam giác sáng và người đàn bà cầm ngọn đèn. Để cân bằng các chuyển động không gian này, chiếc đầu ngựa đã hướng không gian về phía trước từ phải sang trái, trong khi cánh tay hướng không gian về phía trước từ trái qua phải. Đường viền của mặt phẳng sáng khi cắt ngang thân ngựa từ chiếc đầu của người đàn ông bên trái đến mặt đáy của cổ ngựa, đã chuyển xuống về bên phải một góc nào đó, đồng thời bị đối chọi bởi một chuyển động hướng lên trên về bên trái do vị trí của chiếc đầu ngựa, ngọn đền và bóng điện dẫn dắt.

Ở phần bên trái bức bích họa, chuyển động tròn của các hình ảnh con bò, người đàn bà và đứa bé tùy thuộc vào các chuyển động ngược chiều và đan xen vào nhau, đặt nền tảng trên các hướng của những khối sáng, các hướng tuyến tính của cạnh các hình, và các hướng thuộc những mảng phía sau và ở giữa các hình. Phía bên phải, nhân vật người đàn ông đả làm cân xứng bức vẽ gồm ba phần này.

Bức bích họa được sáng tác nhằm chuyên chở một thông điệp. Nó đã thành công đến đâu trong việc đó, và ai là người mà thông điệp này muốn nhắm tới? Picasso có thể đã làm cho các hình vẽ của ông mang nhiều tính thực tế hơn như ông đã từng làm trong họa phẩm Minotauromachy, tuy nhiên ông đã chọn bản phác họa cuối cùng của tác phẩm này để giữ một đặc tính bán trừu tượng cho chúng. Rõ ràng ông đã cảm thấy rằng lối thể hiện này sẽ phục vụ đắc lực hơn cho mục đích của ông. Bức bích họa có đường nét giống như tranh hí họa. Hí họa được dùng để trình bày một thông điệp có tính thuyết phục cao, đồng thời các nhân vật và ý tưởng của nó thường bị bóp méo; nó hoàn toàn có tính biểu tượng, thông điệp của nó rất giản đơn và trực tiếp. Tuy vậy, khi sử dụng những hình ảnh giống như hí họa, Picasso lại trình bày một thông điệp phức tạp, nhưng trực tiếp. Đồng thời, tính rõ ràng của các đối tượng, các hình ảnh thực tế, tùy thuộc vào sự xếp đặt và các mặt phẳng trừu tượng. Người ta buộc phải truy tìm ý nghĩa của các hình ảnh và biểu tượng, cùng một lúc với việc phải tập trung sự chú ý vào phương tiện thông tri. Mối tương quan giữa hai thứ, bản chất và tầm quan trọng của mỹ thuật đương đại, và có lẽ mối tương quan đáng chú ý giữa kinh nghiệm thẩm mỹ và cái thế giới mà trong đó chúng ta đang sinh sống, đã được nhấn mạnh. Bởi vì không hề có một sự suy diễn giản đơn mang tính văn văn học nào về Guernica, cho nên nó không thể dễ dàng bị xem như là một trong các quan niệm được mọi người chấp nhận, và bởi đó mà dễ dàng bị lãng quên. Đúng hơn là, nó đưa đến một sự thách thức. Rõ ràng chính những ý nghĩa dược nhiều người chấp nhận một cách quá dễ dàng khiến cho Picasso muốn có sự thách thức. Và bức bích họa chỉ nhắm đến những ai sẽ cố công tìm hiểu thông điệp của nó. Nhưng quan niệm sáng tạo của tác phẩm còn quan trọng hơn cả thông điệp của nó. Có phải nó mang những ý nghĩa tình cảm mãnh liệt hay không? Có phải nó tồn tại với tư cách là một tác phẩm nghệ thuật đầy tính sáng tạo? Đây là những câu hỏi mà chính bạn phải tự mình trả lời. Có lẽ bạn sẽ thấy rằng câu trả lời tùy thuộc phần nhiều vào các ý nghĩa tình cảm mà bức bích họa cưu mang, hơn là nhũng ý nghĩa chân thực của nó. Nếu thế, bạn sẽ có thể nảy sinh nhiều đường hướng mới trong sự cảm nghiệm nghệ thuật.

______________

[1] Picasso: Fifty Years of His Art, Alfred H. Barr, Jr., Bảo tàng viện Mỹ thuật Hiện đại xuất bản năm 1946, trang 202.

[2] sách đã dẫn.

[3] Lời tuyên bố này của Picasso được thực hiện vào ngày 29 tháng năm năm 1947 để đáp lại câu hỏi mà Alfred H. Barr, Jr., giám đốc Bảo tàng viện Mỹ thuật Hiện đại, gởi đến, thông qua Henry Kahnweiler, chủ nhân phòng tranh Louise Leiris của Paris. Câu hỏi ấy như sau: “Con bò tượng trưng cho người Tây-ban-nha chiến thắng hay tượng trưng cho sự độc ác, nói một cách cụ thể hơn, cho chủ nghĩa dân tộc của chính phủ Franco?” (Chú thích của tác giả)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s