21. Alfred North Whitehead – Tôn giáo và Khoa học

Giới thiệu:

Trong hơn hai mươi năm, Alfred North Whitehead là một nhân vật quen thụôc và nổi bật trong khuôn viên đại học Harvard. Ra đời tại Ramsgate, Anh quốc, năm 1861, ông tốt nghiệp đại học Cambridge, ngôi trường mà ông đã trở thành giảng sư về toán học cho đến năm 1911. Sau đó, ông đến làm việc tại đại học Luân-đôn, và từ năm 1914 đến 1924, ông dạy toán tại Đại học Khoa học và Kỹ nghệ Hoàng gia. Ở tuổi sáu mươi ba, Whitehead bắt đầu bước vào một giai đoạn mới của sự nghiệp bằng việc đến dạy triết học tại đại học Harvard. Ngày nay, nhìn chung, người ta đều đồng ý rằng các trước tác quan trọng nhất của ông đều được thực hiện trong những năm tháng sinh sống tại Mỹ này. Một số cuốn sách nổi tiếng nhất của ông, như Science and the Modern World (1925) (Khoa học và Thế giới Hiện đại), Process and Reality (1929) và Adventures of Ideas (1933) (Những cuộc Phiêu lưu của Tư tưởng), đều được xuất bản trong giai đoạn này. Khi qua đời năm 1947, ông được nhìn nhận như là một trong những nhà siêu hình học có khả năng nhất của thời đại chúng ta. Dialogues of Alfred North Whitehead (Những cuộc Thảo luận của Alfred North Whitehead), được Lucien Price ghi lại, là một cuốn sách thú vị nhằm giới thiệu tư tưởng của ông.

Trong tiểu luận “Religion and Science” (“Tôn giáo và Khoa học”) được chọn in trong cuốn sách này, trích từ tác phẩm Science and The Modern World, chúng tôi, ngay lập tức, đã nhận ra tinh thần sáng suốt và cẩn trọng về tư tưởng khoa học. Đó là tinh thần làm cho Whitehead được chú ý đến trong tất cả các trước tác triết học của ông – và người ta không còn biết làm gì hơn ngoài việc nghĩ rằng ông đã mang một chiều kích còn thiếu trong các bài tiểu luận của Walter Lippmann và Bertrand Russell đến với cuộc luận bàn bị cho là nhiều cảm xúc và nhầm lẫn. Vì là nhà toán học và luận lý học, Whitehead đã có được hai phương pháp lập luận mà ông thường dùng trong bài tiểu luận này, đó là sự mở rộng và sự khái quát hóa. Bất cứ lúc nào phải đối mặt với một luận điểm hoặc sự tranh cãi mới lạ, ông đều đưa luận điểm ấy quay về với lịch sử để chứng minh rằng nó chẳng phải là mới và trong quá khứ, người ta đã tìm ra các giải pháp cho nó. Từ đó, ông không cảm thấy tuyệt vọng trong tình huống hiện tại. Ông có thể làm ngạc nhiên những độc giả thường nói với ông rằng: “Whitehead hoàn toàn là người của tôn giáo,” bằng cách chỉ ra các lỗi lầm rằng người có tôn giáo đã bám quá chặt vào các lý lẽ thiếu chắc chắn. Nhưng khi một độc giả nghĩ rằng về phương diện tư tưởng, ông chỉ là một khoa học gia, thì ông sẽ chỉ ra một ví dụ nào đó, từ sự hiểu biết lịch sử rộng rãi của mình, về một khoa học gia hăng hái thái quá khi đòi hỏi quá nhiều cho các lý thuyết của mình. Do đó, thói quen mở rộng vấn đề thường cứu ông thoát khỏi những quan điểm thiển cận.

Khi định nghĩa các danh từ “tôn giáo” và “thần linh,” Whitehead áp dụng nguyên tắc khái quát hóa, và đã làm cho các định nghĩa của mình có tính bao quát và tách biệt khỏi các khuôn thức học thuyết, đến nỗi không ai có thể phản đối chúng. Nhưng chúng có rõ ràng đủ để làm thỏa mãn tâm linh của con người hay không (như điều mà Lippmann trông đợi ở tôn giáo) lại là một vấn đề khác. Ít nhất là sẽ không có một phiên tòa dị giáo nào diễn ra, nếu như các định nghĩa của Whitehead được chấp thuận.

__________

I

Sự khó khăn trong việc tiếp cận vấn đề về sự tương quan giữa tôn giáo và khoa học là: việc làm sáng tỏ điều đó đòi hỏi chúng ta phải có một ý niệm rõ ràng nào đó về điều mà chúng ta muốn nói bằng cả hai thuật ngữ trên, “khoa học” và “tôn giáo.” Ngoài ra, tôi cũng muốn nói một cách khái quát nhất, nếu có thể, đồng thời cũng muốn so sánh về các tín điều tôn giáo và khoa học cá biệt. Chúng ta cần phải hiểu loại liên hệ tồn tại giữa hai lãnh vực này, để rồi sau đó đưa ra một số kết luận rõ ràng về hoàn cảnh hiện tại, cái mà thế giới đang phải đương đầu.

Mối xung đột giữa tôn giáo và khoa học là điều xuất hiện một cách tự nhiên trong đầu óc chúng ta mỗi khi chúng ta nghĩ về đề tài này. Điều đó có vẻ như là, trong nửa cuối thế kỷ vừa qua, các thành quả khoa học và những niềm tin tôn giáo đã bước vào chỗ bất đồng thực sự, một sự bất đồng không có lối thoát, bằng không thì hoặc phải loại bỏ việc giảng huấn khoa học, hoặc phải khước từ việc rao giảng tôn giáo. Kết luận này đều được những người tranh luận của cả hai bên đưa ra. Cố nhiên, nó không phải được đưa ra bởi tất cả những người tranh luận, mà chỉ bởi các nhà trí thức sắc sảo, những người kêu gọi phải mở ra mọi cuộc tranh luận.

Nỗi buồn đau của các đầu óc nhạy cảm này, lòng nhiệt tâm dành cho chân lý này và tầm quan trọng của các vấn đề tranh cãi đều là những thứ đòi hỏi lòng cảm thông chân thành nhất của chúng ta. Khi suy xét về những gì mà tôn giáo và khoa học đã làm cho nhân loại, thì không hề cường điệu khi nói rằng lối đi tương lai của lịch sử luôn luôn tùy thuộc vào sự quyết định của thế hệ này đối với mối tương quan giữa hai lãnh vực ấy. Ở đây, chúng ta có hai thế lực mạnh mẽ nhất có ảnh hưởng đến con người, và dường như chúng được xếp đặt để kình chống lẫn nhau – đó là thế lực của sự hiểu biết về tôn giáo của chúng ta và thế lực thôi thúc chúng ta đi đến sự quan sát chính xác và sự suy diễn hợp lý.

Một chính khách Anh quốc vĩ đại đã từng khuyên đồng bào của ông nên sử dụng các tấm bản đồ khổ lớn như là một biện pháp phòng vệ để chống lại nỗi sợ hãi và sự hiểu lầm thường gặp về các mối bang giao thực sự giữa các quốc gia. Cũng với cách thức như vậy, nhằm đối phó với sự va chạm giữa các yếu tố thường hằng của bản chất con người, thật là hữu ích khi phóng lớn bản đồ lịch sử của chúng ta và thoát khỏi hấp lực của các mối xung đột hiện tại. Khi làm như vậy, tức thì chúng ta khám phá ra hai sự kiện lớn. Thứ nhất, luôn luôn có một sự xung đột giữa tôn giáo và khoa học; và thứ hai, cả tôn giáo lẫn khoa học đều luôn luôn nằm trong tình trạng phát triển không ngừng. Trong thời gian đầu của lịch sử Thiên chúa giáo, đã có một niềm tin phổ quát rằng thế giới đang đi đến một sự kết thúc. Chúng ta chỉ có thể đưa ra các kết luận gián tiếp liên quan đến việc niềm tin này được tuyên bố một cách đầy quyền uy đến mức độ nào; nhưng chắc chắn rằng nó đã được ủng hộ rộng rãi, đồng thời nó đã tạo nên một phần quan trọng của lý thuyết tôn giáo phổ biến này. Niềm tin ấy tự nó đã cho thấy là sai lầm, và lý thuyết Thiên chúa giáo đã tự điều chỉnh để thay đổi. Lại nữa, trong giáo hội thuở ban đầu, nhiều nhà thần học đã suy diễn từ kinh thánh một cách rất quả quyết các ý kiến liên quan đến bản chất của vụ trụ vật chất. Vào năm 535, một tu sĩ tên là Cosmas đã viết một cuốn sách và đặt nhan đề cho nó là Christian Topography (Địa hình theo Quan điểm Thiên chúa giáo). Ông là một nhà du hành đã từng viếng thăm Ấn-độ và Ethiopia; sau đó sống trong một tu viện ở Alexandria, một thành phố được coi là trung tâm văn hóa lúc bấy giờ. Trong cuốn sách vừa nói, khi căn cứ vào ý nghĩa trực tiếp của các bản văn kinh thánh được giải thích theo nghĩa đen, ông đã phủ nhận sự tồn tại của các điểm đối chân, và quả quyết rằng thế giới này là một hình bình hành phẳng có chiều dài gấp đôi chiều rộng.

Vào thế kỷ mười bảy, lý thuyết về sự chuyển động của trái đất bị một tòa án Thiên chúa giáo La-mã lên án. Một trăm năm trước, sự gia hạn thời gian do ngành khoa học địa chất yêu cầu đã làm phiền lòng những người Tin lành và Thiên chúa giáo La-mã. Và hiện nay, thuyết tiến hóa là cũng là một chướng ngại vật tương tự. Tất cả những điều này chỉ là một số ít ví dụ minh họa cho một sự thật phổ biến.

Nhưng mọi ý tưởng của chúng ta sẽ nằm trong một viễn cảnh sai lầm, nếu chúng ta nghĩ rằng tình trạng lúng túng tái đi tái lại này chỉ nằm giới hạn trong các điều mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo; và rằng trong sự mâu thuẫn này, tôn giáo luôn luôn tỏ ra sai lầm, trong khi khoa học lúc nào cũng đúng. Các sự kiện đúng trong trường hợp này có tính chất phức tạp hơn rất nhiều và không thể được tổng kết theo những cách thức giản đơn như vậy.

II

Không một nhà khoa học nào có thể tán thành một cách không dè dặt các niềm tin của Galileo, hoặc của Newton, hoặc tất cả các niềm tin khoa học mười năm về trước của chính mình. Trong cả hai lãnh vực tư tưởng này, nhiều hành động bổ sung và biến đổi đã được thực hiện. Do vậy, nếu như sự khẳng định của ngày hôm nay có giống với sự khẳng định của hàng ngàn năm trước đây, thì nó cũng bị phụ thuộc vào các giới hạn hoặc sự mở rộng của ý nghĩa, những cái không được suy niệm trong thời đại trước đó. Các nhà luận lý học đã bảo chúng ta rằng một mệnh đề chỉ có thể hoặc là đúng, hoặc là sai, và không hề có trường hợp đứng giữa. Nhưng trong thực tế, chúng ta có thể biết rằng một mệnh đề diễn tả một sự thật quan trọng nào đó, nhưng nó cũng phụ thuộc vào các giới hạn và phẩm tính mà hiện vẫn chưa được khám phá. Đó là đặc điểm phổ biến trong sự hiểu biết của chúng ta, đó là chúng ta cứ khăng khăng rằng mình đã biết sự thật, nhưng lại chỉ là những công thức về sự thật mà chúng ta có thể tạo ra, những cái giả định trước một quan điểm phổ biến nào đó về các khái niệm có thể sẽ bị biến đổi. Tôi sẽ đưa ra cho bạn hai ví dụ minh họa, cả hai đều được lấy từ khoa học: Galileo nói rằng trái đất chuyển động và mặt trời đứng yên; tòa án dị giáo nói rằng trái đất đứng yên và mặt trời chuyển động; và các nhà thiên văn học theo phái Newton, khi tiếp nhận lý thuyết tuyệt đối về không gian, nói rằng cả mặt trời lẫn trái đất đều chuyển động. Nhưng hiện nay, chúng ta nói rằng bất cứ phát biểu nào trong ba phát biểu này đều đúng như nhau, miễn là bạn xác định được ý nghĩa của từ “đứng yên” và “chuyển động” theo cách thức mà câu phát biểu được chấp thuận đã đòi hỏi. Vào ngày xảy ra cuộc tranh luận của Galileo với tòa án dị giáo, cách thức phát biểu các sự kiện của Galileo chắc chắn là một cách thức có lợi cho nghiên cứu khoa học. Nhưng về bản chất, nó cũng không đúng hơn so với khuôn thức suy nghĩ của tòa án dị giáo. Nhưng lúc đó, những quan niệm hiện đại về sự chuyển động tương đối làm gì hiện hữu trong tâm trí của con người; từ đó, các lời phát biểu ấy được thực hiện mà không hề tính đến các phẩm tính đòi hỏi cần phải có cho một chân lý hoàn hảo. Tuy nhiên, vấn đề về sự chuyển động của trái đất và mặt trời đã bộc lộ một sự kiện có thật nào đó trong vũ trụ; và mọi bên đã nắm giữ những sự thật quan trọng liên quan đến nó. Nhưng với sự hiểu biết thuở đó, các sự thật ấy có vẻ đầy mâu thuẫn.

Tiếp theo, tôi mang đến cho bạn một ví dụ khác lấy từ vật lý học hiện đại. Vào thế kỷ mười bảy, kể từ thời Newton và Huygens, đã có hai thuyết liên quan đến bản chất vật chất của ánh sáng. Thuyết của Newton cho rằng tia sáng là một dòng phần tử li ti, hay còn gọi là các hạt, và chúng ta cảm nhận được ánh sáng khi các hạt này đập vào võng mạc của đôi mắt chúng ta. Thuyết của Huygens cho rằng ánh sáng chính là các sóng lan truyền trong một môi trường lan truyền ánh sáng (ether). Hai thuyết này đều tỏ ra trái ngược với nhau. Vào thế kỷ mười tám, người ta tin vào thuyết của Newton, nhưng đến thế kỷ mười chín, thì tin vào thuyết của Huygens. Ngày nay, có một phần lớn các hiện tượng chỉ có thể giải thích được bằng thuyết về sóng ánh sáng, và một phần lớn khác chỉ có thể giải thích được nhờ vào thuyết về hạt ánh sáng. Các khoa học gia đành phải bỏ ngỏ vấn đề, chờ đợi tương lai, với hy vọng đạt được một tầm nhìn bao quát hơn nhằm dung hòa cả hai.

Chúng ta nên áp dụng các nguyên tắc giống nhau này cho các vấn đề trong đó có sự khác biệt giữa khoa học và tôn giáo. Chúng ta sẽ không tin điều gì trong lãnh vực tư tưởng mà đối với chúng ta, nó không được xác nhận bởi các lập luận vững chắc dựa trên sự nghiên cứu cần thiết của chính chúng ta hoặc của những nhà chuyên môn giàu kinh nghiệm. Nhưng mong rằng chúng ta đã thành thật dự liệu trước điều này: sự va chạm giữa hai lãnh vực này về phương diện chi tiết, nơi chúng thường chồng chéo lên nhau, không làm cho chúng ta hấp tấp từ bỏ các lý thuyết mà chúng ta đã có chứng cớ vững chắc. Có thể là chúng ta quan tâm nhiều đến hệ thống lý thuyết này hơn so với hệ thống lý thuyết kia. Nhưng, nếu chúng ta có tầm viễn kiến và ý thức được quá trình hình thành tư tưởng, chúng ta sẽ chờ đợi và không lên án lẫn nhau.

Chúng ta chờ đợi, nhưng không nên chờ đợi một cách thụ động hoặc tuyệt vọng. Sự va chạm là dấu hiệu cho thấy rằng hiện có những sự thật bao quát hơn và những viễn tượng tốt đẹp hơn, trong đó người ta sẽ tìm được sự hòa giải dành cho một niềm tin tôn giáo thâm viễn hơn và một nền khoa học vi tế hơn.

Vì thế, trong ý nghĩa nào đó, sự xung đột giữa khoa học và tôn giáo chỉ là một vấn đề không đáng kể, cái mà người ta đã nhấn mạnh một cách không thích đáng. Sự mâu thuẫn hợp lý không thể đi xa hơn tính thiết yếu của một số hành động tái điều chỉnh một đặc tính thứ yếu nào đó của cả hai phía. Hãy ghi nhận các khía cạnh khác biệt rộng rãi của những sự kiện được giải quyết lần lượt trong khoa học và trong tôn giáo. Khoa học đề cập đến những điều kiện phổ biến được quan sát nhằm hiệu chỉnh các hiện tượng vật chất; trong khi đó, tôn giáo được bao trùm trong sự suy niệm về các giá trị tinh thần và thẩm mỹ. Bên này, có luật hấp dẫn, còn bên kia, có những trầm tư về nét đẹp của sự thiêng liêng. Điều mà bên này nhìn thấy, thì bên kia lại bỏ lỡ, và ngược lại.

Chẳng hạn như, hãy thử nhìn vào cuộc đời của John Wesley và của thánh Francis thành Assisi. Đứng về phía khoa học, trong cuộc đời của hai vị này, chúng ta chỉ có được những ví dụ bình thường về sự hoạt động của các nguyên lý hóa học sinh lý và về sự tác động của các phản ứng thần kinh; đứng về phía tôn giáo, chúng ta nhận được những sinh mệnh có ý nghĩa sâu sắc nhất trong lịch sử nhân loại. Bạn có ngạc nhiên không khi thiếu vắng một lời phát biểu hoàn hảo và trọn vẹn về các nguyên lý khoa học và tôn giáo áp dụng cho các trường hợp đặc biệt này, thì câu chuyện về những cuộc đời xuất phát từ các lập trường khác nhau này sẽ đòi hỏi những điều trái ngược nhau? Chỉ có phép mầu mới không như thế.

Tuy nhiên, sẽ không hiểu vấn đề trọng tâm nếu nghĩ rằng chúng ta không nên tự gây rắc rối cho mình trong sự mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo. Trong một thời đại tri thức, không thể có mối lưu tâm tích cực nào mà lại đặt sang một bên tất cả những hy vọng đối với một hình ảnh về sự hòa hợp của sự thật. Gây ra sự bất hòa là hủy diệt tính vô tư và sự trong sạch của tinh thần. Các đức tính này là biểu hiện về lòng tự trọng của người trí thức trong việc xâm nhập vào tình trạng phức tạp của tư tưởng để đạt được tính sáng tỏ cuối cùng. Nếu bạn cản trở hành động đó, bạn sẽ không hề có một nền khoa học và một tôn giáo khởi nguồn từ sự suy tư tỉnh táo. Câu hỏi quan trọng được đặt ra là: chúng ta sẽ đối diện với vấn đề này bằng một tinh thần như thế nào? Khi đó, chúng ta sẽ đi đến một điều gì đó có tính chất sống còn.

Sự va chạm giũa các lý thuyết không hề là thảm họa – đó là một vận hội. Tôi sẽ giải thích điều tôi muốn nói bằng một số ví dụ minh họa lấy từ khoa học. Nguyên tử trọng của nitrogen là một ví dụ nổi riếng. Ngoài ra, nó đã từng là một lý thuyết khoa học vững chắc, theo đó trọng lượng trung bình của các nguyên tử như thế có trong bất cứ khối lượng đáng kể nào đều luôn luôn như nhau. Hai nhà thí nghiệm, Rayleigh và William Ramsay, đã nhận thấy rằng nếu họ thu được khí nitrogen bằng hai phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp đều đạt được kết quả mong muốn như nhau, thì họ luôn luôn thấy có sự khác biệt nhỏ giữa các trọng lượng trung bình của các nguyên tử trong hai trường hợp. Bây giờ, tôi xin hỏi bạn: liệu có hữu lý hay không, nếu như hai nhà thí nghiệm này tỏ ra tuyệt vọng vì sự mâu thuẫn giữa lý thuyết hóa học và sự quan sát khoa học? Giả sử rằng vì một lý do nào đó, lý thuyết hóa học ấy đã từng được đánh giá cao tại một vùng nào đó, đồng thời được coi như là nền tảng của trật tự xã hội trong vùng đó: — Liệu có khôn ngoan, có vô tư, có hợp đạo lý hay không, khi cấm đoán tiết lộ sự thật mà hai cuộc thí nghiệm nói trên mang lại? Hoặc, mặt khác, liệu William Ramsay và Rayleigh có nên tuyên bố giờ đây lý thuyết hóa học ấy bị phát hiện là một lý thuyết lừa mị hay không? Tức thì, chúng ta nhận thấy rằng cả hai trường hợp vừa được giả định đều đối phó với vấn đề tranh cãi bằng một tinh thần hoàn toàn sai lầm. Điều mà Rayleigh và Ramsay đã làm là: ngay lập tức, họ hiểu rằng họ đã bất ngờ khám phá được một phương cách nghiên cứu – phương cách này đã phơi bày một điểm tế nhị của lý thuyết hóa học mà cho đến nay vẫn chưa được quan sát. Sự khác nhau này không phải là một thảm họa, đó là một vận hội để mở rộng tầm hiểu biết về hóa học. Tất cả chúng ta đều đã biết được kết cục của câu chuyện này, đó là: cuối cùng, người ta đã khám phá ra argon, một nguyên tố hóa học mới, nằm lẩn trong nitrogen, mà trước đây người ta chưa phát hiện. Nhưng câu chuyện này lại có một tác động trong việc tạo nên ví dụ minh họa thứ hai của tôi. Sự khám phá ấy làm mọi người chú ý đến tầm quan trọng của việc quan sát chính xác những điểm khác biệt nhỏ nhoi trong các chất hóa học thu nhận được bằng nhiều phương pháp khác nhau. Nhiều cuộc nghiên cứu thêm về tính chính xác đã được thực hiện. Cuối cùng, một nhà vật lý khác, F. W. Aston, làm việc trong phòng thí nghiệm Cavendish tại đại học Cambridge, Anh quốc, đã khám phá ra rằng cùng một nguyên tố hóa học, nhưng lại có nhiều hình thức cấu tạo khác nhau, được gọi là chất đồng vị, và rằng luật bất biến của khối lượng nguyên tử trung bình vẫn được tôn trọng trong mỗi hình thức cấu tạo này, nhưng giữa các chất đồng vị luôn luôn có sự khác biệt nhỏ. Cuộc nghiên cứu, vốn xuất phát từ việc khám phá ra chất argon, đã tạo ra một sự tiến bộ lớn lao cho lý thuyết hóa học; tầm quan trọng của nó lớn hơn rất nhiều so với việc khám phá ra chất argon. Đây là bài học rút ra từ những câu chuyện này, và tôi sẽ áp dụng nó vào trường hợp tôn giáo và khoa học.

Trong luận lý hình thức, sự mâu thuẫn là một dấu hiệu thất bại; nhưng trong sự phát triển của tri thức, điều đó đánh dấu bước đầu tiên trong hành trình đi đến chiến thắng. Đây là lý do quan trọng để giải thích tinh thần bao dung cực độ dành cho sự khác biệt quan điểm. Lúc nào cũng vậy, sự bao dung được tóm tắt trong những từ sau đây, “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt.” Sự thất bại của người Thiên chúa giáo, của giới có thẩm quyền tối cao, trong việc làm theo lời giáo huấn này là một trong những điều kỳ lạ của lịch sử tôn giáo. Nhưng chúng ta vẫn chưa chấm dứt cuộc thảo luận về tâm trạng luân lý cần có cho cuộc truy tìm sự thật. Có những ngõ tắt chỉ đưa đến thành công hão huyền. Thật là dễ dàng để tìm ra một lý thuyết hài hòa một cách hợp lý và có nhiều áp dụng quan trọng trong thực tế, miễn là bạn sẵn sàng không để ý đến các chứng cứ của bạn. Mọi thời đại đều sản sinh ra những người có trí năng thông sáng và sự hiểu biết đáng ngợi khen nhất về tầm quan trọng của một lãnh vực nào đó trong đời sống con người; đây là những người đã lập nên, hoặc được thừa hưởng, một hệ thống tư tưởng thích hợp một cách chính xác với những gì mà sự quan tâm của họ đòi hỏi. Những người như thế thường có khuynh hướng làm ngơ, hoặc giải thích cho qua, tất cả những chứng cứ gây phiền nhiễu cho kế hoạch của họ bằng những sự kiện trái ngược. Đối với họ, những gì không thích hợp đều là vô nghĩa. Sự quyết định có tính cách vô tư trong việc lưu tâm đến toàn bộ chứng cứ là phương pháp duy nhất để chống lại những điều cực đoan thất thường của quan điểm hợp thời. Lời khuyên này nghe có vẻ dễ hiểu, nhưng thực ra lại rất khó làm theo.

Một lý do đưa đến sự khó khăn này là chúng ta không thể nghĩ trước rồi làm sau. Từ khi chào đời, chúng ta đã bị ngập chìm trong hành động, và thảng hoặc mới có thể hành động theo suy nghĩ. Do đó, trong nhiều lãnh vực kinh nghiệm khác nhau, chúng ta đã phải chấp nhận những ý tưởng có vẻ có tác dụng trong phạm vi của các lãnh vực đó. Việc phó mặc cho các ý tưởng mà nhìn chung là đúng đắn là một hành động hoàn toàn cần thiết, mặc dầu chúng ta biết rằng luôn luôn có những điều bí nhiệm và khác biệt vượt quá tầm hiểu biết của mình. Hơn nữa, trừ những điều cần thiết buộc phải hành động, chúng ta thậm chí không thể suy nghĩ trước về toàn bộ chứng cứ xác thực, mà chỉ biết núp dưới lớp vỏ của những học thuyết hoàn toàn không hài hòa với nhau. Chúng ta không thể suy nghĩ theo kiểu chi tiết tủn mủn, bất định; chứng cứ của chúng ta chỉ có thể đạt được tầm quan trọng thích hợp khi nó được xếp đặt bằng các ý tưởng tổng quát. Chúng ta thừa hưởng các ý tưởng này – chúng đã tạo nên truyền thống của nền văn minh chúng ta. Các ý tưởng mang tính truyền thống như thế không bao giờ bất biến. Hoặc chúng dần dần biến thành các công thức vô nghĩa, hoặc chúng đạt được sức mạnh nhờ vào nguồn tri thức do một sự hiểu biết tinh tế hơn mang tới. Chúng được chuyển hóa bằng sự thôi thúc của lý trí, bằng chứng cứ sống động của kinh nghiệm cảm xúc, và bằng sự xác thực lạnh lùng của nhận thức khoa học. Bạn không thể giữ chúng bất động, đó là sự thật. Không một thế hệ nào có thể sao chép tiền nhân của mình. Bạn có thể duy trì sự sống trong sự biến động của mô thức, hoặc bảo vệ mô thức đó giữa sự suy vi của đời sống. Nhưng bạn không thể giam cầm mãi mãi đời sống trong cùng một khuôn mẫu.

III

Hiện trạng tôn giáo trong các dân tộc Âu châu đã minh họa cho những lời trình bày mà tôi đưa ra cho đến bây giờ. Các hiện tượng đều rất phức tạp. Đã có nhiều điều trái ngược xảy ra, sự phản ứng cũng như sự phục hưng. Nhưng về tổng thể, sự suy giảm của ảnh hưởng tôn giáo đến nền văn minh Âu châu đang không ngừng diễn ra. Mỗi cuộc phục hưng đều chỉ vươn tới một đỉnh điểm thấp hơn trước đây, và mỗi một giai đoạn đình trệ đều diễn ra trong một chiều sâu nông cạn hơn. Đồ thị biểu diễn đã cho thấy chiều hướng đi xuống liên tục trong tinh thần mộ đạo. Vẫn có một số quốc gia quan tâm đến tôn giáo nhiều hơn quốc gia khác. Nhưng trong các quốc gia mà sự quan tâm đến tôn giáo có mức độ khá cao, thì độ quan tâm ấy vẫn cứ suy giảm sau nhiều thế hệ trôi qua. Tôn giáo đang có xu hướng thoái hóa thành một dạng công thức khuôn sáo nhằm làm vật trang điểm cho một đời sống tiện nghi. Một trào lưu lịch sử vĩ đại thường có kết quả từ sự hội tụ của nhiều nguyên nhân. Tôi xin giới thiệu hai trong số các nguyên nhân nằm trong phạm vi chương này.

Thứ nhất, trong hơn hai thế kỷ vừa qua, tôn giáo luôn nằm trong tình trạng phòng vệ, một sự phòng vệ yếu ớt. Giai đoạn này là một tiến trình tri thức chưa từng có tiền lệ. Một loạt các hoàn cảnh mới đã được đặt ra cho tư tưởng. Mỗi dịp như thế đều cho thấy rằng các nhà tư tưởng tôn giáo luôn nằm trong tư thế thiếu sẵn sàng. Những điều đã từng được tuyên bố là có tính chất quan trọng sống còn, cuối cùng, sau những cuộc tranh đấu, những cơn hiểm nguy, và những lời nguyền rủa, đã bị biến đổi và diễn dịch trái ngược. Thế rồi những nhà biện minh cho tôn giáo thuộc thế hệ kế tiếp lại chúc mừng tôn giáo đã đạt được sự sáng suốt sâu xa hơn. Hậu quả của sự lập đi lập lại hành động thoái lui không xứng đáng này, qua nhiều thế hệ, rốt cuộc đã hủy hoại hoàn toàn uy tín tri thức của các tư tưởng gia tôn giáo. Hãy nhìn điều trái ngược này: khi Darwin hoặc Einstein công bố các lý thuyết bổ sung cho các ý tưởng của chúng ta, thì đó là sự thắng lợi của khoa học. Chúng ta không hề nói rằng khoa học vừa có được một thất bại nữa, bởi vì các ý tưởng cũ của nó đã bị từ bỏ. Khi đó, chúng ta hiểu rằng một bước phát triển thêm nữa của khoa học vừa được thực hiện.

Tôn giáo sẽ không khôi phục được sức mạnh cũ cho tới khi nào nó có thể đối diện với sự thay đổi trong một tinh thần như vậy, sự thay đổi mà khoa học hiện đang làm. Các nguyên lý của nó có thể có tính chất trường tồn, nhưng sự diễn đạt chúng đòi hỏi sự tiến triển không ngừng. Quá trình tiến triển này của tôn giáo hầu như là một sự vượt thoát của các ý tưởng thích hợp của chính nó ra khỏi các ý niệm ngẫu nhiên bên ngoài, những thứ đã âm thầm thâm nhập vào nó, thông qua sự diễn đạt các ý tưởng của chính nó, dưới dạng hình tượng có tính cách tưởng tượng được nuôi dưỡng trong những thời đại trước đây. Sự vượt thoát như thế của tôn giáo, một sự vượt thoát ra khỏi các giới hạn của khoa học bất toàn là một hành động hoàn toàn tốt đẹp. Điều đó sẽ nhấn mạnh thông điệp chân xác của nó. Điểm quan trọng cần ghi nhớ là sự tiến bộ trong khoa học thông thường sẽ cho thấy rằng nhiều lời tuyên bố về các tín điều tôn giáo cần phải được bổ sung. Có thể là chúng cần phải được mở rộng, hoặc giải thích thêm, hoặc phải tuyên bố lại hoàn toàn. Nếu tôn giáo là một sự biểu tả lành mạnh của sự thật, thì việc bổ sung này sẽ chỉ bộc lộ một cách tương xứng quan điểm chính xác có tính chất quan trọng. Một tiến trình như vậy là một điều hết sức thuận lợi. Do đó, trong tầm mức của mối liên hệ giữa tôn giáo với các sự thật vật chất, người ta luôn   mong đợi rằng quan điểm về các sự thật ấy cần phải liên tục được bổ sung, mỗi khi tri thức khoa học có những bước phát triển xa hơn. Bằng cách này, tính thích đáng của các sự thật đó trong tư tưởng tôn giáo sẽ ngày càng trở nên trong sáng hơn. Trong sự pháp điển hóa không ngừng của tư tưởng tôn giáo, sự tiến bộ của khoa học phải là thành quả đối với lợi thế to lớn của tôn giáo.

Những cuộc tranh cãi tôn giáo xảy ra vào thế kỷ mười sáu và mười bảy đã đặt các nhà thần học vào một tình trạng tinh thần bất ổn. Họ luôn luôn phải công kích và phòng vệ. Họ tự khắc họa thành một đơn vị binh sĩ trong một thành lũy bị kẻ thù bao vây tứ phía. Những hình ảnh như thế chỉ thể hiện được một nửa sự thật. Đó là lý do khiến họ trở nên nổi tiếng. Nhưng họ cũng rất nguy hiểm. Hình ảnh đặc biệt này đã dung dưỡng cho một tinh thần bè phái thù nghịch, điều thực ra chỉ bộc lộ sự thiếu vắng niềm tin. Họ không dám thay đổi, bởi vì họ đã né tránh việc giải thoát thông điệp tôn giáo của họ khỏi một hình ảnh cụ thể nào đó.

Tôi xin giải thích điều này bằng một ví dụ. Vào giai đoạn đầu của thời Trung cổ, thiên đàng thì ở trên trời, và địa ngục ở dưới lòng đất; núi lữa là cái miệng của địa ngục. Tôi không quả quyết những niềm tin này đã trở thành các khuôn mẫu có tính chính thức, nhưng chúng đã thực sự ăn sâu vào sự nhận thức của nhiều người về thiên đàng và địa ngục. Những quan niệm này là điều mà mọi người nghĩ được ngầm hiểu trong lý thuyết về tình trạng của kiếp sau. Chúng đã biến thành những lời biện giải về các yếu tố có sức thuyết phục trong niềm tin Thiên chúa giáo. Chằng hạn như, chúng xuất hiện trong tác phẩm Dialogues của Giáo hoàng Gregory, một nhân vật mà địa vị cao trọng chính thức của ông không thể sánh với tính cao cả trong sự phục vụ nhân loại của ông. Tôi không đang nói về những gì mà chúng ta nên tin về tình trạng kiếp sau. Nhưng cho dầu lý thuyết đúng đắn ấy có là gì đi nữa, thì sự va chạm giữa tôn giáo và khoa học, cái đã đưa trái đất xuống một vị trí của một hành tinh tầm thường gắn liền với một mặt trời cũng vào hạng tầm thường, cũng đã mang lại lợi ích to lớn cho phẩm tính tâm linh của tôn giáo bằng cách xua tan những điều tưởng tượng của thời trung cổ này.

IV

Cho đến giờ, quan điểm của tôi là như thế này: tôn giáo là biểu hiện của một trong số các kinh nghiệm căn bản của nhân loại; tư tưởng tôn giáo đã phát triển để đi đến một sự chính xác không ngừng về cách diễn đạt, khi nó vượt thoát khỏi hình tượng ngoại lai; sự tương tác giữa tôn giáo và khoa học là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển này.

Bây giờ, tôi xin nói đến lý do thứ hai gây nên tình trạng thiếu quan tâm đến tôn giáo của người hiện đại. Điều này liên quan đến vấn đề tối hậu mà tôi đã nói trong những câu mở đầu. Chúng ta cần phải biết điều chúng ta muốn nói thông qua danh từ tôn giáo. Giáo hội, khi trình bày lời đáp cho câu hỏi này, đã đề xuất nhiều khía cạnh về tôn giáo, những khía cạnh được diễn tả bằng những từ ngữ hoặc là chỉ thích hợp với những phản ứng tình cảm của thời đại đã qua, hoặc là nhằm khơi dậy những lợi ích tình cảm hiện đại của đặc tính phi tôn giáo. Điều tôi muốn nói với cái trước là sự đòi hỏi của tôn giáo phần nào được nhằm vào việc khơi dậy sự sợ hãi mang tính bản năng đối với cơn phẫn nộ của một kẻ bạo ngược vốn đã phát triển trong khối dân chúng bất hạnh sống trong những đế quốc độc đoán của thế giới xa xưa; đồng thời, sự đòi hỏi ấy, một cách đặc biệt, nhằm khích động nỗi sợ hãi dành cho một kẻ bạo chúa có sức mạnh vô song, đang đứng phía sau các thế lực tự nhiên vẫn còn chưa được biết đến. Sự đòi hỏi dành cho bản năng sợ hãi sẵn có này hiện đang đánh mất uy lực của nó. Nó đã thiếu vắng sự đáp ứng, bởi vì khoa học và hoàn cảnh sống hiện đại đã dạy chúng ta đương đầu với nỗi sợ hãi bằng cách phân tích tường tận các nguyên nhân và điều kiện gây ra nỗi sợ ấy. Tôn giáo là một phản ứng của bản chất con người đối với cuộc truy tìm Thượng đế. Sự trình bày Thượng đế dưới phương diện quyền lực đã đánh thức mọi bản năng của sự phản ứng mang tính chỉ trích của thời hiện đại. Điều này thật nguy hiểm; bởi vì tôn giáo sẽ sụp đổ, trừ phi các quan điểm chính yếu của nó có đủ tư cách để kêu gọi sự tán thành ngay tức khắc. Ở khía cạnh này, lối nói cũ cũng không phù hợp với tâm lý của con người sống trong nền văn minh hiện đại. Sự thay đổi tâm lý này phần lớn là do khoa học gây nên, và là một trong những phương cách chủ yếu mà theo đó, sự tiến bộ của khoa học đã làm suy yếu ảnh hưởng của các hình thức diễn đạt cũ của tôn giáo. Đông lực phi tôn giáo mà đã thâm nhập vào tư tưởng tôn giáo hiện đại chính là lòng khao khát có được một tổ chức sung túc của xã hội hiện đại. Tôn giáo đã được trình bày như là một điều gì đó có giá trị cho trật tự của cuộc sống. Những yêu cầu của nó giờ đã đặt nền tảng trên chức năng khuyến khích hành xử đúng mực. Ngoài ra, mục đích về phẩm hạnh tốt đẹp cũng đã bị thoái hóa thành việc hình thành các quan hệ xã hội làm vừa lòng nhau. Ở đây, chúng ta có một sự suy giảm giá trị của tư tưởng tôn giáo, khi tạo nên sự thanh lọc dần dần tư tưởng tôn giáo bằng sự tác động của những tín điều đạo đức mang tính bản năng. Phẩm hạnh là một thứ phẩm của tôn giáo — một thứ phẩm tất yếu, nhưng không phải là điểm chính yếu. Mọi bậc tôn sư của tôn giáo đều chống lại việc trình bày tôn giáo như là một hệ thống luật lệ về phẩm hạnh. Thánh Paul đã lên án luật pháp, và các nhà thần học Thanh giáo thì nói về mớ giẻ rách bẩn thỉu của sự công bằng. Sự nhất mực đòi hỏi những lề luật về phẩm hạnh đã đánh dấu sự suy giảm nhiệt tình tôn giáo. Và trên tất cả những điều này, đời sống tôn giáo không phải là một cuộc nghiên cứu dựa theo hành động an ủi. Bây giờ tôi xin nói, bằng tất cả sự dè dặt, về điều mà tôi nhận thấy là đặc tính thiết yếu của tinh thần tôn giáo.

Tôn giáo là viễn ảnh của những gì đứng bên ngoài, đằng sau, và bên trong dòng biến dịch của sự vật trước mắt, những gì có thực, nhưng đang chờ đợi được nhận ra; những gì được xem như là một triển vọng xa vời, nhưng lại là điều cao quý nhất của thực tại; những gì mang lại ý nghĩa cho tất cả những cái đã qua, nhưng lại vượt quá sự hiểu biết; những gì mà tài sản của chúng là sản phẩm cuối cùng, nhưng lại nằm ngoài tầm với của mọi người; những gì vừa là lý tưởng tối hậu, vừa là mục tiêu tuyệt vọng.

Phản ứng tức thì của bản chất con người đối với viễn ảnh tôn giáo là sự tôn sùng. Tôn giáo đã thâm nhập vào kinh nghiệm con người, và lẫn lộn với những hình ảnh thô bạo nhất của trí tưởng tượng bán khai. Dần dần, một cách chậm chạp, viễn ảnh ấy cứ tái diễn trong lịch sử dưới một hình thức cao cả hơn và bằng một sự biểu đạt trong sáng hơn. Nó là một yếu tố trong kinh nghiệm của con người mà luôn luôn thể hiện một chiều hướng đi lên. Nó nhạt nhòa, rồi lại xuất hiện. Nhưng một khi cách tân sức mạnh của mình, nó lại lộ diện bằng một sự phong phú và trong sáng của nội dung. Sự thật về viễn ảnh tôn giáo và quá trình bành trướng không ngừng của nó là một lý cớ khiến chúng ta có thể lạc quan. Tách ra khỏi tôn giáo, đời sống con người chỉ là một tia chớp khoái lạc phù du chợt lóe lên giữa muôn vàn khổ đau — một tia chớp vô giá trị của kinh nghiệm nhất thời.

Viễn ảnh này không đòi hỏi điều gì cả ngoài sự tín ngưỡng; và tín ngưỡng là sự đầu hàng trước đòi hỏi hòa nhập được thúc giục bằng động lực yêu thương lẫn nhau. Viễn ảnh này không bao giờ bị bác bỏ. Nó luôn luôn hiện diện, đồng thời sở đắc sức mạnh yêu thương, khi trình bày một mục đích mà việc thực hiện mục đích ấy chính là sự hòa hợp đời đời. Cái trật tự mà chúng ta tìm thấy trong tự nhiên không bao giờ là sức mạnh – nó là một sự điều chỉnh hài hòa của các tiểu tiết phức tạp. Khi thiếu quan tâm đến viễn ảnh trường cửu này, thì cái ác chính là động lực tàn bạo của mục tiêu rời rạc. Cái ác đang ngự trị, đang làm trì trệ sự tiến bộ, đang gây ra những khổ đau. Sức mạnh của Thượng đế chính là sự tín ngưỡng mà Ngài là người đã truyền cảm hứng. Tôn giáo chỉ mạnh khi mà trong nghi lễ, phương thức suy tư của nó khơi dậy được sự nhận thức về viễn ảnh uy nghi này. Sự thờ phụng Thượng đế không là một nguyên tắc an toàn – nó là cuộc phiêu lưu của tinh thần, một sự bay bổng theo những gì không thể đạt được. Cái chết của tôn giáo sẽ xuất hiện cùng với sự đè nén ước vọng cao cả về chuyến phiêu lưu.

____________

 

Advertisements

20. Walter Lippmann – Về việc hòa giải Khoa học và Tôn giáo

Giới thiệu:

Năm 1929, Lippmann cho xuất bản một trong những cuốn sách được bàn luận rộng rãi và gây nhiều tranh cãi nhứt, A Preface to Morals (Giới thiệu về Đạo đức). Đây là một tác phẩm đặc biệt sâu sắc về các vấn đề đạo đức và tôn giáo nảy sinh từ những thập kỷ đầu của thế kỷ hai mươi, xuất phát từ sự tác động của tư tưởng khoa học lên xã hội đô thị. Khi viết không phải với tư cách một khoa học gia hay một người có đức tin tôn giáo, mà trong cương vị của một trong những ký giả có khả năng nhứt nước Mỹ, người đã dùng toàn bộ cuộc đời để quan sát và lý giải tiến trình diễn biến của các vấn đề nhân loại, Lippmann, trong cuốn sách này, muốn tìm cách nghiên cứu, bằng thái độ khách quan nào đó, các lực lượng lao động trong đời sống Mỹ đương đại. Dẫu không phải là một triết gia chuyên nghiệp, nhưng Lippmann lại hoàn toàn nắm vững các vấn đề triết học. Sự quan tâm đến lãnh vực này đã đưa ông trở về những tháng ngày theo học ở đại học Harvard, nơi với tư cách là sinh viên một lớp học nổi tiếng của niên khóa 1910, ông đã theo học ban triết vào những năm Josiah Royce, William James và George Santayana đã biến Harvard thành trung tâm triết học có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của nước Mỹ.

Điều khiến có thể nhận diện được thời đại của chúng ta, Lippmann nói, là sự đánh mất niềm tin tôn giáo. Ngày nay, người ta không còn tin rằng có thể tìm thấy Thượng đế trong kinh thánh hay nhà thờ; thật vậy, họ không còn tin vào Thượng đế. “Trong số những người không còn tin vào tôn giáo của thế hệ cha anh họ, thì một số đã tỏ thái độ thách thức một cách ngạo mạn, và đa số tỏ ra bàng quan. Nhưng cũng có số ít, có lẽ số này đang gia tăng, cảm thấy rằng có một khoảng trống trong đời sống của họ. Cuốn sách này tìm hiểu các vấn đề ấy. Nó không hề có ý định khuấy động tình trạng an bình của những ai vẫn đang kiên định với niềm tin mà mình ấp ủ; đồng thời, nó cũng không đề cập đến những người vẫn đang tươi vui sau khi đã thoát khỏi chính thuyết nhàm chán. Nó chỉ nói đến những người đang hoang mang trước các hậu quả xuất phát từ tình trạng thiếu tín ngưỡng của chính mình.”

Trong trích đoạn mà chúng tôi lấy từ A Preface to Morals, Lippman đã đề cập đến điều, đối với ông, dường như là sự xung đột giữa thế giới quan mà hầu hết các khoa học gia đều chấp nhận và thế giới quan của tôn giáo mà con người cần đến, bởi vì nó mang lại ý nghĩa và cứu cánh cho đời sống. Ông ấn hành cuốn sách này vào năm 1929, khi mối quan tâm của nhiều người dành cho tôn giáo xem chừng như vẫn còn mạnh mẽ hơn hiện nay. Lúc đó, báo chí đang thổi phồng các phiên tòa dị giáo; những lời tuyên bố của các khoa học gia về vấn đề tôn giáo liên tục được đưa ra; và những cuộc thảo luận về sự tiến hóa và kinh thánh được mọi người háo hức đọc. Nếu ngày nay, các dòng tít trên báo chí chuyển sang các vấn đề khác, thì những ý tưởng sáng sủa của Lippmann vẫn còn nguyên giá trị, và vấn đề mà ông luận bàn vẫn sẽ là một vấn đề quan trọng.

___________

Nhiều lý lẽ đã được viện dẫn để giải thích tại sao người ta không còn đi nhà thờ nhiều như trước đây. Chắc chắn lý do quan trọng nhất là họ không tin rằng sẽ gặp Chúa khi đến nhà thờ. Nếu có niềm tin đó, họ sẽ đi. Nếu họ thực sự tin rằng họ được dõi theo bởi một đấng Tối cao, người có nhiều quyền lực hơn tất cả các vị vua trên trần thế này cộng lại, nếu họ thực sự tin rằng không chỉ các hành vi, mà cả những suy tư thầm kín của họ, đều bị nhìn thấy, đồng thời sẽ được ghi nhận bởi đấng sáng tạo và vị phán quan tối thượng của vũ trụ, thì sẽ không có lời than phiền gì về số lượng tín đồ tham dự thánh lễ tại nhà thờ. Khi đó, kẻ ít niềm tin nhất sẽ ngồi ở hàng ghế đầu, và người thuyết giáo sẽ không phải dùng đến những mưu chước khá là tuyệt vọng để thu hút cử tọa. Nếu mọi người tin rằng các tín điều được tuyên xưng là hoàn toàn xác thực, thì người đi lễ hiện đại sẽ không còn đến nhà thờ, như họ thường làm hiện nay, để nghe thuyết giáo và thánh nhạc. Nếu như vậy, họ sẽ luôn luôn tôn thờ Thượng đế.

 

Sự tin theo một tôn giáo sẽ mất tác dụng khi nó chỉ dựa vào sự tán thành có tính cách thụ động, hoặc vào những lập luận rối rắm, hoặc vào sự cổ võ cuồng nhiệt, hoặc vào những mưu tính, dù không xấu xa, nhằm biến mọi thứ trở nên mơ hồ và mang nhiều tính khoa trương. Con người không thể đùa giỡn với niềm tin. Hoặc là anh ta có nó trong tận xương tủy; hoặc là khi gặp khốn khó, sẽ không có niềm tin nào nâng đỡ anh ta.

 

I

 

Dân tộc Mỹ, không giống với các dân tộc khác, được hợp thành từ những cá nhân đã bị mất quê hương. Họ băng qua biển cả để định cư khắp nơi trên một lục địa mới. Những người Mỹ nào vẫn đang cư ngụ trong ngôi nhà của tổ phụ hầu như đều cảm thấy như thể mình đang sống trong một viện bảo tàng. Có rất ít người Mỹ sống yên một nơi từ bé đến lớn, và ngay cả khi họ vẫn ở tại nơi chốn mà họ đã chào đời, thì các vết tích xưa cũ cũng đã bị cuốn phăng để dành chỗ cho sự phát triển. Có lẽ đó là lý do tại sao chúng ta có nhiều tính cách Mỹ hơn là có nhiều tình yêu dành cho nước Mỹ. Cần phải có thời gian để yêu cái trạm xăng mới đang tọa lạc ở nơi mà trước đây những bụi kim ngân dại đã mọc. Hơn nữa, đại đa số người Mỹ đều là những kẻ thành đạt. Họ đã rời bỏ giai cấp xuất thân của họ, và có lẽ từ đó cũng đã nâng cha mẹ họ lên một vị thế cao hơn, để có thể cùng nhau ngồi bên những chiếc ống dẫn hơi nước mà nghe những điệu nhạc ngân nga phát ra từ chiếc máy radio. Nhưng càng lúc càng có nhiều người trong số họ đã từ bỏ, chẳng những giai cấp xuất thân, mà còn cả nền văn hoá của họ nữa; sau đó, họ rời bỏ người thân, và thế là tính liên tục của đời sống bị gián đoạn. Niềm tin chỉ lớn mạnh khi nó được chuyển giao từ cha mẹ sang con cái giữa một môi trường luôn luôn xác nhận – bởi vì không điều gì hoàn toàn biến đổi một cách triệt để – sự tồn tại của một sự lâu bền nào đó trong trật tự xã hội. Rõ ràng là trong cuộc di cư có tính chất vật lý và tâm lý này, một vài trong số các vị thần hộ mạng của gia đình đã được đóng gói cẩn thận để mang theo chung với hành lý, rồi sau đó được mở ra để đặt lên các bệ thờ mới tại quê hương mới. Nhưng những thứ được mang theo đó chẳng khác nào cái cây đã bị bứng khỏi mặt đất. Gốc rễ của nó vẫn còn nằm sâu trong lòng đất mà từ đó nó đâm chồi.

 

Vỉa hè của một thành phố lúc nào cũng là nơi chốn khắc nghiệt để gieo mầm tôn giáo. Trong suốt chiều dài lịch sử, như Spengler đã nói rõ, thành thị luôn luôn làm nảy sinh dị giáo và các nghi lễ thờ phụng mới lạ, đồng thời dung dưỡng cho tình trạng vô tín ngưỡng. Bây giờ, khi nói về nền văn minh hiện đại, điều chúng ta muốn nói là một nền văn minh bị ngự trị bởi các giá trị văn hoá của các trung tâm đô thị lớn. Nền văn minh của chính chúng ta tại nước Mỹ này có lẽ là nền văn minh đã bị đô thị hoá một cách đáng kể nhất trong số tất cả các trung tâm đô thị; bởi vì ngay cả giới nông gia, mặc dầu sinh sống ở nông thôn, vẫn đang có khuynh hướng trở thành các cư dân ngoại ô hơn là người tỉnh lẻ. Tôi nhận thức được dân số những vùng ngoại vi của các thành phố lớn đã đóng một vai trò có nhiều ảnh hưởng như thế nào. Tuy nhiên, các thành phố lớn mới là nơi định đoạt nhịp độ lớn mạnh của nền văn minh chúng ta; đồng thời chiều hướng của các phát minh cơ giới cộng với chính sách kinh tế sẽ tạo ra một hấp lực không thể cưỡng lại, khiến cho nông thôn ngày càng tiến dần về phía thành thị.

 

Các truyền thống sâu xa và bền vững của tôn giáo thường tùy thuộc vào nông thôn. Bởi vì đó là nơi người ta kiếm miếng ăn hàng ngày bằng cách tòng phục các thế lực siêu nhiên, những thế lực mà con người chỉ có thể phần nào chế ngự được các hành vi của chúng. Trong việc cày cấy, gieo trồng, anh ta không còn biết làm gì hơn, ngoại trừ chờ đợi mưa thuận gió hoà. Rõ ràng anh ta là một phần của sự xếp đặt nào đó và phải trung thuận với các yếu tố vượt quá khả năng và sự hiểu biết của mình. Thành thị, do đó, là một chất cường toan làm ruỗng mòn lòng trung thuận này. Nó hoàn toàn khác với một vườn nho thuở nào, nơi mà người ta luôn luôn gieo trồng những gì mà cha ông họ đã gieo trồng. Trong một đô thị hiện đại, không dễ duy trì “tình cảm quyến luyến với cội nguồn và kéo dài sự ổn định của cuộc sống nảy sinh từ tình cảm quyến luyến ấy.” Sẽ rất thiếu tự nhiên khi hình thành tình cảm quyến luyến với một căn hộ có thời hạn cho thuê trong vòng hai năm, và với chiếc bàn giả gỗ đặt trên tầng ba mươi hai của một cao ốc văn phòng. Trong một môi trường như thế, lòng trung thuận trở nên phi lý, và là một cái gì đó khôi hài; người sùng đạo, khi đó, trông giống như một người quê mùa hoặc một kẻ ngốc ngếch lạc hậu.

 

Tuy nhiên, nếu thiếu lòng mộ đạo, nếu thiếu tình cảm quyến luyến dành cho gia đình và quê hương, nếu thiếu sự gắn bó với một khung cảnh ít đổi thay, thì không thể nào có niềm tin vào sự xếp đặt bên ngoài cuộc sống. Quyền năng tuyệt đối của Thượng đế luôn luôn là một điều gì đó có ý nghĩa đối với những người hàng ngày phụ thuộc vào chu kỳ thời tiết và năng lực huyền nhiệm của thiên nhiên. Nhưng người thành thị thường đặt niềm tin của họ vào các cuộc thử thách để giữ cho nó đừng nguội lạnh, nhận thức một cách kiêu mạn về chất thải độc hại nào mà tiền nhân của họ từng hứng chịu, và về việc họ đã tin tưởng một cách ngu dốt rằng Thượng đế, người đã tạo ra Adam lúc 9 giờ sáng ngày 23 tháng Mười năm 4004 trước Tây lịch, có quan tâm đến các hành vi của con cái Adam.

 

II

 

Người bình thường là một kẻ thực dụng vô thức: anh ta tin, bởi vì anh ta cảm thấy rằng những niềm tin của anh ta làm thay đổi đường đi của các biến cố. Anh ta không thờ phượng một vị thần linh chỉ biết suy niệm về vũ trụ, hoặc vị thượng đế sáng tạo ra vũ trụ ấy, và sau đó sẽ không cảm thấy được an nghỉ, trong khi vận mệnh của vũ trụ cứ tự phơi bày một cách không thương tiếc. Đối với người chất phác, tôn giáo không phải là một hoạt động bất vụ lợi, mà là một vấn đề rất thực dụng. Nó liên quan đến tình trạng an bình của họ trong thế giới đang sống này và trong một thế giới bình đẳng sau đó. Họ muốn biết ý nguyện của Thượng đế, bởi vì họ phải biết điều đó một khi họ họ thố lộ sự thật với đấng sáng tạo.

 

Những ai tự cho là mình biết được ý nguyện của Thượng đế đều phải chứng tỏ rằng họ biết điều đó. Đây là chức năng của những phép lạ. Đó là chứng cớ xác thực cho việc vị tôn sư của tôn giáo có một phận sự thực thụ. “Dân chúng thấy dấu lạ (về bánh mì và cá) Đức Jesus làm, thì nói, hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian.” Khi Chúa Jesus làm cho người chết tại cổng thành Nain trỗi dậy, “mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người.” Các nhà thần học Thiên Chúa giáo có uy tín nhất đã dạy rằng phép lạ “không phải được làm ra để chứng tỏ chân lý bên trong của các học thuyết, mà chỉ nhằm biểu lộ các lý do tại sao chúng ta nên chấp nhận các học thuyết ấy.” Chúng, “về căn bản, là một sự đòi hỏi hiểu biết,” một sự biểu hiện, cái mà người ta hầu như có thể nói là sự thể nghiệm thiêng thánh, nhờ đó người ta có thể biết được sự quang diệu và an bài của Thiên Chúa.

 

Những người biện giải cho Thiên Chúa giáo cho rằng Thiên Chúa có thể được biết bằng lý trí, nhưng phép lạ giúp, như nó đã từng, xác nhận niềm tin. Sự gắn bó bền bỉ của giáo hội Thiên Chúa giáo với phép lạ là một sự gắn bó đầy ý nghĩa. Nó có một kinh nghiệm liên tục với bản chất con người lâu hơn bất cứ định chế nào khác trong thế giới phương Tây. Nó đã tự thích nghi với nhiều tình huống, và dưới sự tuyên xưng tín ngưỡng không thể đổi thay, nó đã từ bỏ, để rồi sau đó, bổ sung nhiều vấn đề. Nhưng nó chưa bao giờ ngưng đòi hỏi sự cần thiết của một sự biểu lộ mang tính vật chất của quyền năng thiêng thánh. Bởi vì, với một bản năng bất khả sai lầm đối với thực tại, các giáo sĩ Thiên Chúa giáo hiểu rằng có một tính thực tế trong nhu cầu muốn sờ nắm và trông thấy, cái mà các chứng cứ bằng ngôn lời không bao giờ có thể đáp ứng được. Họ đã kiên quyết đáp lại nhu cầu ấy. Họ không thể rao giảng về Thiên Chúa chỉ bằng cách ngợi ca Ngài; họ đã đưa Thiên Chúa đến gần với con người bằng cách biểu lộ Ngài cho các giác quan, như là một người có đủ tính cao cả, sự chân thiện và quan tâm đến con người để có thể chữa khỏi bệnh tật và làm cho lũ lụt lùi dần.

 

Nhưng ngày nay, các khoa học gia lại nằm ở thế thượng phong so với các giáo sĩ trong vấn đề minh giải này. Vả lại, các phép lạ được thuật lại từ bục giảng kinh càng trở nên hiếm hoi. Thậm chí có nhà thần học đã giảng rằng phép lạ đã không còn xuất hiện sau cái chết của các tông đồ. Nhưng phép lạ của khoa học dường như không hề có biểu hiện cạn kiệt. Không có gì đáng ngạc nhiên khi khoa học gia đã thủ đắc phần lớn uy thế tri thức mà các giáo sĩ đã từng có được. Khoa học gia, cố nhiên, không nói các khám phá của họ là phép lạ. Nhưng đối với người bình thường, các khám phá ấy cũng mang nhiều đặc tính như phép lạ. Chúng là những điều kỳ diệu, là những cái không thể giải thích được, là sự biểu lộ của một sứ mạnh to lớn tác động lên các thế lực của thiên nhiên.

 

Tôi nghĩ không thể nói rằng dân chúng nói chung, ngay cả thiểu số có học vấn không cao lắm, đều hiểu sự khác biệt giữa phương pháp khoa học và sự mặc khải, hoặc sự khác biệt mà dựa vào đó, họ đã quyết định đặt niềm tin nơi khoa học. Ít ra, phép lạ hiện có trong khoa học đối với người bình thường cũng nhiều tương đương với các phép lạ đã từng có trong tôn giáo; điều này được hiểu theo một ý nghĩa rằng phép lạ khoa học thường xuất hiện nhiều hơn, bởi vì sự hợp lý của khoa học là điều vẫn còn hoàn toàn nằm ngoài tầm hiểu biết của anh ta; trong khi đó sự hợp lý của mặc khải là sự hợp lý của chính các xúc cảm của anh ta. Nhưng nếu con người nói chung không hiểu được phương pháp khoa học, thì họ vẫn có thể đánh giá đúng mức một số các kết quả hữu hình của nó. Và các kết quả này gây ra nhiều ấn tượng cho đến nỗi nhà khoa học thường bị bối rối trước các kỳ vọng không cùng mà họ đã vô tình khơi gợi. Uy thế của họ trong lãnh vực kiến thức đã trở thành một điều lôi cuốn hầu như khó cưỡng lại được. Cho nên, khi các khoa học gia truyền giảng một lý thuyết nào đó và kinh thánh lại rao truyền một lý thuyết khác, thì khoa học gia luôn luôn mang lại sự tin cậy lớn hơn.

 

Các xung đột giữa khoa học gia và giáo sĩ đôi khi được quy cho một điều hiểu lầm nào đó thuộc cả hai phía. Nhưng khi chúng ta khảo sát các đề xuất hoà bình (cho sự xung đột này), thì rõ ràng là, tôi nghĩ, trên thực tế, chúng chỉ là những đề xuất hưu chiến. Chẳng hạn như, tôi tin rằng thoạt tiên, vào thế kỷ mười bảy, có một đề xuất được đưa ra như sau: Thượng đế làm cho vũ trụ giống như chiếc đồng hồ, và sau khi cho nó chạy, Ngài sẽ bỏ mặc nó đến khi nào nó đứng lại. Bằng hình ảnh ẩn dụ khéo léo này, cái không thể chứng minh và cũng không thể phản bác, người ta đã có thể hoà giải quan điểm của khoa học về các quy luật thiên nhiên với quan điểm xưa cũ hơn về Thượng đế như là đấng sáng tạo và người phán xét. Quan điểm tôn giáo tỏ ra đúng đắn vào thời điểm khởi đầu và kết thúc của thế giới, còn quan điểm khoa học thì cho thấy sự chính xác của nó vào giai đoạn giữa hai thời điểm ấy. Sau đó, khi sự khó khăn được chuyển từ vật lý học và thiên văn học sang sinh vật học và sử học, thì sự khác biệt đã nảy sinh. Thượng đế, người ta nói, đã sáng tạo ra thế giới và cai quản nó; phương cách mà Ngài sáng tạo và cai quản thế giới là phương cách mà khoa học gia gọi là “sự tiến hoá”.

 

Các nỗ lực hoà giải đều dựa trên một lý thuyết cho rằng có thể vạch ra, trong lãnh vực hiểu biết, một ranh giới để phân định bên này các phương pháp của khoa học sẽ chiếm ưu thế, trong khi bên kia thuộc về các phương pháp của tôn giáo truyền thống. Người ta thừa nhận rằng nơi nào sự thử nghiệm và quan sát có thể thực hiện được, thì nơi đó là cương thổ của khoa học gia; nhưng người ta cũng biện luận rằng có một lãnh thổ bao la đối với lợi ích to lớn của con người luôn luôn nằm ngoài tầm với của sự nghiên cứu khoa học có tính cách thực dụng, và rằng tại đây, những vấn đề thống thiết như định mệnh của con người, cứu cánh của cuộc đời, sự bất tử, phương pháp thiên khải, cái được cảm nhận và xác minh bằng trực giác, vẫn còn đáng tin cậy.

 

Trong bất cứ cuộc hưu chiến nào thuộc loại này, luôn luôn có sự xâm lấn từ cả hai phía. Lý do là vì đó chỉ là một chính sách tạm thời hơn là một sự tin cậy được ưng thuận từ trong thâm tâm của mỗi phía. Khoa học gia thực sự không thể tin rằng có những lãnh vực tri thức mà họ không bao giờ có thể thâm nhập. Họ phải bước vào mọi nơi chốn để khám phá mọi thứ. Và ngay cả khi thất bại, họ cũng không thể tin rằng các khoa học gia khác cũng sẽ phải thất bại như họ. Hơn nữa, các bài luận văn của họ thường tạo ra sự phiền toái và nỗi hồ nghi khiến các giáo sĩ chính thống bị phật ý. Trong bất cứ sự phân chia quyền lực nào, luôn luôn cần phải có một thế lực tối thượng để phán quyết các vấn đề tranh chấp. Khoa học gia sẽ định đoạt cái gì thuộc về khoa học, hay là các giáo sĩ sẽ làm chuyện đó? Vấn đề này sẽ không thể giải quyết được chừng nào mà cả hai đều cứ tuyên bố rằng họ có quyền giải thích bản chất của sự sống.

 

III

 

Tính mới lạ căn bản của khoa học hiện đại nằm ở sự khước từ niềm tin – cái niềm tin nằm nơi tâm điểm của mọi tôn giáo phổ biến – rằng các lực làm chuyển động ngôi sao và nguyên tử đều phụ thuộc vào sự ưa thích của trái tim con người. Khoa học của Aristote và của các học giả thời trung cổ, trái lại, lại là một khoa học có tính phổ biến thực sự. Về động lực, nó chính là một khoa học có tính bản năng của những người phản khoa học. “Họ thiên nhiều về nguyên nhân và cứu cánh của vũ trụ”, tiến sĩ Randall nói, “cái được biện giải vì con người, vì sự phụng sự cho cái thiện.” Họ đưa ra một ý niệm vũ trụ chỉ có thể dùng để đáp ứng các nhu cầu tôn giáo của những người bình thường, và trong vở The Divine Comedy[1] (Thần Khúc), chúng ta có thể thấy một ví dụ xứng đáng về điều khoa học phải là, một khi nó muốn đáp ứng nhu cầu tin tưởng của con người. Mục đích của toàn bộ thi phẩm, Dante nói, “là nhằm để đưa những ai đang sống trong cuộc sống này thoát khỏi tình trạng bất hạnh, đồng thời dẫn dắt họ đến cõi miền hoan ái.”

 

Đây là điểm mấu chốt mà con người, theo bản năng, vốn trông chờ: khả năng nói một cách chắc chắn rằng khi sự thật hoàn toàn rõ ràng, người ta sẽ thấy ước vọng của họ bị chi phối bởi loại tình yêu làm cho mặt trời và các vì sao chuyển động. Họ không chỉ hy vọng tìm thấy ý nguyện của Thượng đế trong vũ trụ, mà còn hy vọng biết rằng ý nguyện của Ngài, về căn bản, giống với ý nguyện của chính họ. Chỉ khi nào có thể vào tin điều đó trên nền tảng nghiên cứu khoa học, thì họ mới thực sự nghĩ rằng khoa học đã “giải thích” thế giới.

 

Sự giải thích, theo ý nghĩa này, không thể xuất phát từ khoa học hiện đại, bởi vì nó không nằm trong cái ý nghĩa mà khoa học hiện đại đang nỗ lực giải thích vũ trụ. Chẳng hạn, hoàn toàn lầm lẫn khi nói rằng bức tranh khoa học về thế giới có tính chất cơ học. Điều duy nhất có thể nói là nhiều khoa học gia đã cảm thấy hài lòng khi nghĩ về vũ trụ như thể là nó được kiến tạo theo kiểu một mô hình cơ giới. “Nếu tôi có thể làm ra mô hình cơ giới,” Kelvin nói, “thì tôi sẽ hiểu nó. Khi nào mà tôi vẫn chưa làm được một mô hình cơ giới, thì tôi không thể hiểu nó.” Nhưng vị khoa học gia này muốn nói điều gì với cụm từ “hiểu nó?” Ý của ông là, theo lời giáo sư Bridgman, ông đã “thoái giảm một trạng huống thành các yếu tố mà chúng ta quen thuộc cho đến nỗi đã chấp thuận chúng như là một lẽ đương nhiên để cho óc tò mò của chúng ta được nghỉ ngơi.” Người hiện đại rất quen thuộc với máy móc. Họ có thể tháo ráp chúng một cách dễ dàng; và như vậy, óc tò mò của chúng ta có xu hướng được thoả mãn nếu như chúng ta nghe rằng hiện tượng kỳ lạ về điện năng hoặc về hành vi con người, chẳng hạn, thì cũng giống như một cỗ máy mà thôi.

 

Người nói rằng thế giới là một cỗ máy thực sự chẳng thể đi xa hơn kẻ nói rằng anh ta hoàn toàn thoả mãn với điều tương tự rằng anh ta đã hoàn tất việc tìm kiếm sự thật. Đó là việc của anh ta, miễn là anh ta đừng khăng khăng cho rằng mình đã đạt được một bức tranh trong sáng và trọn vẹn về vũ trụ; bởi lẽ rõ ràng là anh ta vẫn chưa đạt được điều đó. Cỗ máy là một vật gì đó mà bên trong nó các bộ phận đều kéo đẩy lẫn nhau. Nhưng tại sao chúng kéo và đẩy, và chúng hoạt động bằng cách nào? Phải chăng chúng kéo và đẩy nhờ vào sự hoạt động theo quỹ đạo của các electron trong nguyên tử? Nếu đúng như thế, tại sao các electron hoạt động? Nó cũng là một cỗ máy chăng? Hoặc giả nó là một cái gì đó hoàn toàn khác với một cỗ máy? Chúng ta sẽ cố gắng lý giải các cỗ máy về phương diện điện học, hay chúng ta nỗ lực lý giải hiện tượng điện học về phương diện cơ học?

 

Do đó, rõ ràng là sự giải thích của khoa học hoàn toàn không giống với những sự giải thích mà người bình thường đã quen với. Nó không mang lại một hình ảnh nào đó về bất cứ cái gì được chấp nhận một cách hồn nhiên như là một hiện thân của thực tại. Thế cho nên, những triết lý phát triển từ khoa học như thuyết cơ giới và thuyết tiến hoá sáng tạo (creative evolution), đều không được khoa học bảo đảm như sự bảo đảm mà uy thế của kinh thánh đã dành cho câu chuyện sáng tạo trong Sáng thế ký. Chúng không là gì cả, ngoại trừ việc là sự cường điệu có tính cách tạm thời, cái sẽ sớm bị khước từ bởi sự tiến bộ của chính khoa học.

 

Đó là lý do tại sao không gì dễ tàn lụi bằng niềm tin khoa học của ngày hôm qua. Nó lụi tàn một cách toàn vẹn hơn bất cứ niềm tin thiên khải nào khác, bởi vì niềm tin thiên khải, cho dù các nhược điểm về phương diện vũ trụ học hoặc sử học của nó có là gì đi chăng nữa, luôn hàm chứa một kinh nghiệm mang tính con người tại tâm điểm của nó, cái mà chúng ta có thể nhận ra và có thể hưởng ứng. Nhưng một niềm tin như thuyết duy vật khoa học lại không chứa đựng điều gì trong nó cả, ngoại trừ thái độ tự phụ rằng nó là sự miêu tả chân thực về thế giới này. Một khi thái độ tự phụ ấy bị tiêu tan, thì nó hoàn toàn không có giá trị của một niềm tin. Nó trở thành một tập hợp các ý niệm đã bị vứt bỏ.

 

IV

 

Khi đó, từ chính bản chất của sự biện giải mang tính khoa học, sẽ dẫn đến việc rằng niềm tin khoa học không thể trao tặng cho con người manh mối đưa tới một dự tính tồn sinh như được tìm thấy trong tôn giáo; bởi vì dự tính ấy phải giả định rằng sự tồn sinh được lý giải dưới dạng định mệnh. Hiện nay, sự tồn sinh có khả năng lại được biện giải, như đã từng được biện giải vào thời Trung cổ, như là vở tuồng định mệnh. Điều này dường như không có giá trị đối với chúng ta; tuy nhiên, chúng ta cũng không thể nói rằng nó là điều hoàn toàn không có khả năng xảy ra. Nhưng ngay cả khi khoa học có đưa ra một lối biện giải như thế, nó vẫn sẽ khác hoàn toàn với sự biện giải mà tôn giáo tận dụng.

 

Nếu nói một cách trung thực, thì nhất thiết phải nói như vầy: một, niềm tin khoa học có tính chất thiếu quả quyết và lệ thuộc vào sự phản bác của các cuộc thử nghiệm sau đó; hai, nó có tính tương đối; trong nó, các sự kiện giống nhau, được nhìn từ quan điểm khác và với mục đích khác trong tâm thức, lại có thể được lý giải một cách hoàn toàn khác nhau; ba, nó không phải là hình ảnh của thế giới, như cách Thượng đế sẽ nhìn thấy, và như cách mọi người phải nhìn thấy, mà nó chỉ là một trong số những hình ảnh sáng tạo có thể có của tâm thức, trong đó hầu hết các dữ kiện của kinh nghiệm được người ta nhào nặn cho ăn khớp với nó. Khi nhà khoa học đã hoàn tất việc gán ghép các phẩm tính, thì bản chất của vấn đề có lẽ đã bị xoá mất – người mộ đạo luôn luôn thấy được điều đó. Sự cả tín – như người mộ đạo ước vọng về nó – sẽ không còn nữa; sự đa dạng, như người mộ đạo hiểu, sẽ biến mất; sự khách quan, như người mộ đạo mường tượng, cũng vậy. Cái còn lại sẽ là một sự hư cấu trừu tượng và hợp lý, thích hợp với cuộc nghiên cứu vô tư, nhưng hoàn toàn không thích hợp để trở thành chiếc xe cứu rỗi.

 

Sự khó khăn của việc hoà giải tôn giáo với khoa học còn lớn lao hơn nhiều so với sự khó khăn trong việc hoà giải Sáng thế ký với Darwin, hay bất cứ lời tuyên bố nào trong kinh thánh với sự khám phá của các khoa học gia. Sự khó khăn trong việc hoà giải ước vọng của con người về một loại vũ trụ nào đó với phương pháp biện giải thế giới hiện nay đã có tính cách hoàn toàn trung lập trong chủ đích của nó. Người ta có thể, bằng cách vặn vẹo ngôn ngữ, hoà giải Sáng thế ký với “thuyết tiến hoá”. Nhưng điều mà không một ai có thể thực hiện được là bảo đảm rằng khoa học sẽ không phá huỷ thuyết tiến hoá vào cái ngày sau khi người ta chứng minh một cách đắc thắng rằng Sáng thế ký có mối tương hợp với thuyết tiến hoá. Trên thực tế, điều đó cũng vừa xảy ra. Thuyết Darwin, thuyết mà các nhà thần học đang vội vã chấp thuận, hiện được khoa học sửa đổi nhiều đến nỗi một bộ phận của nó hầu như đã lỗi thời như huyền thoại về người Babylon trong Sáng thế ký. Cuộc hoà giải mà các nhà thần học nỗ lực tìm kiếm là một cuộc hoà giải không thể thực hiện được, bởi vì một trong những yếu tố phải được hoà giải – đó là học thuyết khoa học – lại thay đổi quá nhanh, đến nỗi mà người bình thường, tại bất cứ thời khắc nào, không bao giờ biết chắc được học thuyết ấy là gì, và phải hoà giải cái gì với các tín điều tôn giáo.

Tuy nhiên, mục tiêu của những nỗ lực hoà giải này đã đủ rõ ràng. Đó là sự mong muốn tìm ra một nền tảng vững chắc cho lý tưởng nhân loại trong các sự thật của cuộc tồn sinh. Uy thế được đặt trên sự mặc khải đã có lần mang lại nền tảng ấy. Nó đã đưa ra sự miêu tả về cách thức thế giới này khởi đầu, về cách thức thế giới này được cai trị, và về cách thức nó sẽ kết thúc; điều này đã biến niềm vui và nỗi buồn, hy vọng và sợ hãi, ước mơ và sự chối bỏ ước mơ thành các động lực chính yếu trong tấn tuồng vũ trụ. Sự mô tả này không còn làm thoả mãn óc tò mò của chúng ta về bản chất của sự vật; cái quyền uy hiện đang bảo chứng cho nó không còn làm chủ được lòng trung thành trọn vẹn của chúng ta. Uy tín, cái đã từng gắn chặt với những ai phát biểu bằng sự thiên khải, giờ đã chuyển sang các khoa học gia. Nhưng khoa học, dẫu hiện nay có là một phương pháp hiểu biết khả tín nhất mà chúng ta có được, vẫn không đưa ra được một sự miêu tả thế giới, trong đó số phận con người là đề tài trung tâm. Do vậy, khoa học, mặc dầu đã chiếm chỗ của sự thiên khải, nhưng vẫn chưa thay thế được nó. Khoa học sản sinh một loại tri thức hoàn toàn khác biệt. Nó giải thích sự kiện. Nhưng nó không đòi hỏi phải biện minh cách thức Thượng đế hành xử với con người. Nó làm cho chúng ta có thể nhận ra một số ước vọng của mình. Nhưng nó không bảo đảm rằng chúng có thể được thực hiện.

_______________

[1] Tác phẩm của Dante Alighieri (1265 – 1321), kịch tác gia người Ý.

19. Lincoln Barnett – Vũ trụ và tiến sĩ Einstein

Giới thiệu:

Trong cuộc thảo luận của chúng ta về quan điểm khoa học, sẽ rất hữu ích khi đề cập đến vị khoa học gia vĩ đại nhất của thời đại chúng ta, một người mà toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của ông đã thể hiện những phẩm chất tốt đẹp cho đến nỗi Peirce đã xem đó là các yếu tố cần thiết của tinh thần khoa học. Albert Einstein sinh năm 1878 tại Ulm, Đức quốc. Sau khi đến học tại Thụy-sĩ, ông đã trở thành công dân của quốc gia này vào năm 1900, và ít năm sau đó, giữ cương vị giáo sư vật lý lý thuyết tại đại học Zurich. Năm 1905, ông cho xuất bản một loạt gồm năm chuyên khảo trinh bày về thuyết Tương đối hẹp (Special Theory of Relativity), cái mà đã ngay lập tức khiến trong ông trở nên nổi tiếng trong giới khoa học. Mười năm sau, ông đưa ra thuyết Tương đối rộng (General Theory of Relativity); thế là chỗ đứng của ông trong hàng ngũ các khoa học gia vĩ đại của mọi thời đại đã được thiết lập một cách vững chắc. Năm 1914, ông đảm nhận vị trí giáo sư vật lý tại đại học Berlin. Năm 1921, ông được trao giải Nobel vật lý; vài năm sau đó, ông trở thành giảng sư thỉnh giảng tại đại học Oxford, đồng thời cũng là giáo sư thỉnh giảng một thời gian cho Học viện Kỹ nghệ California.

Năm 1933, khi chính phủ Đức quốc xã coi ông là một người Do-thái vô dụng và treo giải cho việc lấy đầu ông, Einstein đã rời nước Đức để qua Mỹ. Ông định cư tai Princeton, New Jersey, nơi mà với tư cách là thượng khách của Institute for Advanced Study, ông đã dùng hai mươi hai năm cuối cùng của cuộc đời mình vào việc nghiên cứu và viết sách khoa học. Năm 1940, ông trở thành công dân Hoa kỳ và đã phát biểu rằng: “bất cứ khi nào tôi có quyền chọn lựa, tôi xin chọn để được sinh sống trong một đất nước mà quyền tự do chính trị, lòng khoan dung và sự bình đẳng của mọi công dân trước luật pháp là những điều hiến định.” Vào dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ bảy mươi tư của ông, một trường y khoa ở New York đã được vinh dự mang tên ông, trường Y khoa Albert Einstein. Ông qua đời năm 1955.

Cố nhiên, người bình thường không dễ dàng hiểu được các lý thuyết khoa học của Einstein. Có lần người ta cho rằng chỉ có sáu người hiểu được ông. Nhưng nhiều nỗ lực đã được thực hiện để trình bày các ý tưởng của ông một cách bình dân hơn; trong số này, loạt bài đăng trên tạp chí Harper’s của Lincoln Barnett năm 1948 được coi là thành công hơn cả. Barnett là một người có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực khó khăn này. Ông đã viết nhiều tiểu sử và các bài báo nổi tiếng về đề tài khoa học cho cả tờ Harper’s lẫn tờ Life; đồng thời từng là phó tổng biên tập của tờ Life. Trong những năm gần đây, ông đã cho đăng trên Life nhiều bài vở rất thành công, bao gồm những bài trên mục “The World’s Great Religions,” “The World We Live In,” và “The Epic of Man.”

Năm 1950, Barnett tập hợp loạt bài về Einstein của ông để in thành cuốn sách có nhan đề là The Universe and Dr. Einstein (Vũ trụ và tiến sĩ Einstein). Trích đoạn của chúng ta, dựa theo bản in lần thứ hai của tác phẩm này, chủ yếu đề cập đến quan điểm về vũ trụ mà Einstein đã ấp ủ trong thời gian trước khi qua đời. Đây rõ ràng là một sự minh họa xuất sắc cho quan điểm khoa học; và dẫu cách nhìn về vũ trụ của nhà khoa học này, như ông đã phác họa cho chúng ta, đôi lúc có gây khó khăn cho độc giả bình thường, nhưng đồng thời cũng đã khơi dậy óc tò mò và làm giàu trí tưởng tượng của anh ta.

___________

Được khắc trên các bức tường trắng của nhà thờ Riverside ở New York, hình ảnh sáu trăm nhân vật của mọi thời đại – các vị thánh, triết gia, vua chúa – đã trở nên bất tử khi quan sát không gian và thời gian bằng đôi mắt miên man, xa vắng. Một bức tường đã lưu giữ hình ảnh của các thiên tài khoa học, gồm mười bốn người, kể từ Hippocrates, người đã mất vào khoảng năm 370 trước Tây lịch, đến Albert Einstein, người vừa qua đời năm 1955. Tại nơi lưu giữ các hình ảnh điêu khắc về những nhân vật quá cố nổi tiếng này, Ainstein là người duy nhất làm rúng động thế giới trong ký ức của hầu hết những người đang còn sống.

Ngoài ra, cũng cần chú ý rằng trong hàng ngàn người đi lễ hàng tuần tại nhà thờ Tin lành tuyệt đẹp của khu Manhattan này, thì khoảng chín mươi chín phần trăm đã gặp khó khăn trong việc giải thích lý do tại sao hình ảnh của Einstein lại hiện diện nơi đây. Sở dĩ như vậy là vì cách đây một thế hệ, khi đang phác họa hình ảnh có tính cách biểu tượng cho ngôi nhà thờ, tiến sĩ Harry Emerson Fosdick đã viết thư cho một nhóm các khoa học gia hàng đầu của đất nước để mời họ đưa ra một danh sách mười bốn nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học. Sự bình chọn của họ rất khác nhau. Hầu hết đều chọn những nhân vật như Archimedes, Euclid, Galileo và Newton. Nhưng mọi danh sách đều xuất hiện cái tên Albert Einstein.

Cái khoảng cách khổng lồ tồn tại dai dẳng hơn năm mươi năm — kể từ năm 1905, khi thuyết Tương đối hẹp được ấn hành lần đầu tiên — giữa sự nổi tiếng của Einstein và sự hiểu biết của công chúng về lý thuyết ấy chính là thước đo lỗ hổng trong nền giáo dục của nước Mỹ. Ngày nay, hầu hết độc giả của các tờ báo đều biết một cách mơ hồ rằng Einstein đã làm một cái gì đó liên quan đến bom nguyên tử; ngoài điều này ra, tên của ông đơn giản chỉ là từ đồng nghĩa với sự khó hiểu. Trong khi các lý thuyết của ông đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của khoa học hiện đại, nhưng chúng vẫn chưa nằm trong chương trình giảng dạy hiện đại. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi nhiều người đã tốt nghiệp đại học vẫn nghĩ về Einstein như là một nhà siêu thực về toán học hơn là người khám phá ra các định luật không gian có tầm quan trọng to lớn đối với nỗ lực gian khó của con người trong việc tìm hiểu thế giới tự nhiên. Anh ta có thể không nhận thức được rằng thuyết Tương đối, cùng với tầm quan trọng về giác độ khoa học của nó, đã hình thành một hệ thống triết lý chính yếu, làm gia tăng ý nghĩa và soi sáng các ý tưởng của những nhà nhận thức luận vĩ đại như Locke, Berkeley và Hume. Hậu quả là, anh ta biết rất ít về cái vũ trụ bao la, huyền nhiệm và ngăn nắp một các kỳ lạ, nơi mà anh ta đang cư ngụ.

* * *

Tiến sĩ Einstein, vị giáo sư emeritus[1] của viện Institute for Advanced Study của đại học Princeton, đã dành những tháng năm cuối cùng của cuộc đời để giải quyết một vấn đề gây nhiều trở ngại cho ông hơn một phần tư thế kỷ. Đó là Thuyết về Trường thống nhất (Unified Field Theory), một lý thuyết đề ra các định luật vật lý chi phối hai lực căn bản của vũ trụ, lực hấp dẫn và lực điện từ. Ý nghĩa của công việc này chỉ được đánh giá đúng mức khi người ta nhận ra rằng phần lớn các hiện tượng tự nhiên dường như được sản sinh bởi hai lực căn bản này.

Vì mục đích của khoa học là nhằm mô tả và giải thích thế giới mà chúng ta đang sống, cho nên một lý thuyết như thế, bằng cách định rõ tính đa dạng của tự nhiên trong phạm vi một lý thuyết hài hòa, có thể sẽ đạt được một mục tiêu cao cả nhất. Nghĩa của từ “giải thích”, tuy nhiên, lại gánh chịu một sự tranh cãi trong mỗi bước đi của con người khi tìm hiểu thực tại. Khoa học không thể thực sự “giải thích” được điện trường, từ trường và trọng trường; các tác động của nó có thể được đo lường và tiên liệu, nhưng sự hiểu biết về bản chất tối hậu của nó là điều mà các khoa học gia hiện đại cũng chẳng có kiến thức nhiều hơn so với Thales của thành Miletus, người đầu tiên nghiên cứu về sự nhiễm điện của tấm hổ phách vào khoảng năm 585 trước Tây lịch. Hầu hết các nhà vật lý học đương thời đều phản đối các quan niệm cho rằng con người có thể khám phá được các lực huyền nhiệm này “thực sự” là gì. Điện trường, Bertrand Russell nói, “không phải là một vật như thánh đường Saint Paul; nó là cái cách thức mà qua đó sự vật tương tác với nhau. Khi chúng ta nói về cách thức mà sự vật tương tác khi, và trong những hoàn cảnh, chúng bị nhiễm điện, là chúng ta đã nói hết những gì cần nói.” Cho đến gần đây, có lẽ có nhiều khoa học gia đã khinh miệt một luận thuyết như thế. Aristotle, người mà các kiến thức về khoa học tự nhiên của mình đã thống ngự tư tưởng phương Tây hai ngàn năm, tin rằng con người có khả năng đạt đến sự hiểu biết về thực tại tối thượng bằng những lập luận dựa trên các nguyên lý hiển nhiên (self-evident principles). Chẳng hạn như, một nguyên lý hiển nhiên cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều có địa vị thích hợp cho riêng mình; do vậy, người ta có thể suy luận rằng vật rơi xuống đất vì đó là nơi mà nó thuộc về, và khói bay lên không trung vì đó là nơi mà khói thuộc về. Mục đích của khoa học theo kiểu Aristotle là nhằm giải thích tại sao sự vật diễn ra. Khoa học hiện đại đã được khai sinh khi Galileo bắt đầu cố gắng lý giải bằng cách nào mà sự vật diễn ra, và từ đó tạo ra phương pháp thực nghiệm đối chứng (controlled experiment) mà hiện nay vẫn là nền tảng của việc nghiên cứu khoa học.

Từ các khám phá của Galileo và, sau đó, của Newton,   đã mở đường cho sự xuất hiện của một thế giới cơ học của những lực, áp lực, ứng suất, dao động và sóng. Dường như không có một quá trình tự nhiên nào mà có thể được mô tả dưới dạng kinh nghiệm thông thường, hoặc được minh họa bằng một mô hình cụ thể, hay được tiên liệu bằng các định luật chính xác đến kinh ngạc của Newton về cơ học. Nhưng trước khi bước sang thế kỷ trước, một số bất đồng đối với các định luật này đã bắt đầu dễ được nhận thấy; và mặc dầu những bất đồng ấy là không đáng kể, nhưng chúng vẫn là những tác động có tính chất nền tảng khiến cho toàn bộ dinh thự thế giới cơ học của Newton bắt đầu gãy đổ. Sự cả quyết khoa học có thể giải thích phương cách sự vật diễn ra bắt đầu trở nên yếu ớt từ khoảng hai mươi năm trước. Và ngay bây giờ, vấn đề là liệu nhà khoa học có thể chạm đến “thực tại” không – hay chỉ có thể tiếp tục hy vọng về điều đó.

II

Các yếu tố khiến các nhà vật lý học không tin cậy vào lãnh vực cơ học đang hoạt động trôi chảy đã bắt đầu xuất hiện lờ mờ phía chân trời tri thức, kể cả bên trong lẫn bên ngoài chân trời ấy – trong phạm vi nguyên tử và bên ngoài không gian xa thẳm. Để mô tả các hiện tượng này về phương diện số lượng, hai hệ thống lý thuyết đồ sộ đã được khai triển trong giai đoạn giữa năm 1900 và năm 1927. Thuyết thứ nhất là thuyết Lượng tử, lý thuyết dùng để giải quyết các vấn đề liên quan đến đơn vị căn bản của vật chất và năng lượng. Thuyết thứ hai là thuyết Tương đối, dùng để giải quyết các vấn đề liên quan đến không gian, thời gian, và cấu trúc của vũ trụ như là một tổng thể.

Hiện nay, cả hai thuyết này đều được coi như là rường cột của tư tưởng vật lý hiện đại. Chúng mô tả các hiện tượng trong lãnh vực của riêng mình dưới dạng các mối tương quan toán học chặt chẽ. Chúng không trả lời nhiều hơn cho câu hỏi “bằng cách nào” của Newton như là các định luật Newton đã trả lời cho câu hỏi “tại sao” của Aristotle. Chẳng hạn như, chúng đưa ra các phương trình xác định một cách chính xác các quy luật chi phối sự bức xạ và lan truyền của ánh sáng. Nhưng cơ chế thực sự mà nhờ đó nguyên tử phát ra ánh sáng và ánh sáng lan truyền qua không gian vẫn còn là một trong những điều bí ẩn của tự nhiên. Tương tự như thế, các quy luật chi phối hiện tượng phóng xạ đã giúp cho các khoa học gia tiên đoán được rằng trong một lượng uranium cho trước, một số nguyên tử nào đó sẽ tan rã trong một quãng thời gian nhất định. Nhưng nguyên tử nào sẽ tan rã và bằng cách nào chúng được chọn để bị diệt vong là những vấn đề mà con người vẫn chưa có lời đáp.

Khi chấp nhận sự mô tả tự nhiên dưới dạng toán học, các nhà vật lý học đã bị thúc buộc rời bỏ thế giới kinh nghiệm bình thường, cái thế giới của sự tri nhận thông qua giác quan. Để hiểu ý nghĩa của sự thoái lui này, nhất thiết phải bước qua ranh giới mong manh phân chia vật lý học và siêu hình học. Những vấn đề liên quan đến mối tương quan giữa người quan sát và thực tại, chủ thể và khách thể, luôn luôn ám ảnh các nhà tư tưởng từ khi hiện diện lý trí. Hai mươi ba thế ký trước, triết gia Hy-lạp Democritus đã viết: “Ngọt ngào và cay đắng, giá buốt và ấm áp, cũng như mọi sắc màu, tất cả đều tồn tại trong ý nghĩ chứ không phải trong thực tại; cái thực sự tồn tại là những phần tử không biến đổi, những nguyên tử, những chuyển dịch của chúng trong không gian trống rỗng.” Galileo cũng đã nhận thức tính thuần chủ quan của các giác quan khi chúng cảm nhận màu sắc, mùi vị, âm thanh, và chỉ ra rằng “chúng ta không thể gán các cảm thức ấy cho các đối tượng ngoại giới, khi mà những nỗi buồn vui có thể xảy đến vì chúng ta đã chạm vào các đối tượng ấy.”

Triết gia Anh quốc John Locke cố gắng xâm nhập vào “bản thể đích thực của vật chất” bằng cách vạch ra đường ranh giữa cái mà ông gọi là phẩm tính chính yếu (primary qualities) và phẩm tính thứ yếu (secondary qualities) của vật chất. Từ đó, ông cho rằng hình dáng, chuyển động, trạng thái rắn và tất cả những thuộc tính hình học là những phẩm tính thực, hay phẩm tính chính yếu, cái vốn hiện hữu trong chính sự vật; trong khi các phẩm tính thứ yếu như màu sắc, âm thanh, mùi vị đơn giản chỉ là sự phóng hiện của giác quan. Tính thiếu tự nhiên của sự phân biệt đó là điều dễ dàng nhận thấy đối với các tư tưởng gia sau này.

“Tôi có thể chứng minh rằng,” nhà toàn học vĩ đại của Đức quốc, Leibnitz, nói, “không chỉ ánh sáng, màu sắc, sức nóng và những thứ tương tự, mà cả sự chuyển động, hình dáng, cũng chỉ là phẩm tính bên ngoài.” Chẳng hạn, chỉ vì thị giác mách bảo cho chúng ta rằng quả bóng đánh golf màu trắng, cho nên hình ảnh do xúc giác gây ra sẽ nói với ta quả bóng ấy hình tròn, mịn, và bé nhỏ — các phẩm tính không có thực, chúng phụ thuộc vào giác quan, hơn là vào phẩm tính mà chúng ta xác định là trắng bằng sự quy ước.

Do đó, các triết gia và khoa học gia dần dần đi đến một kết luận rất đáng chú ý rằng: vì mọi vật đơn giản chỉ là sự tập hợp các phẩm tính của riêng nó, và vì các phẩm tính chỉ tồn tại trong tâm thức, cho nên toàn bộ thế giới khách quan của vật chất và năng lượng, của nguyên tử và tinh cầu, đều không tồn tại, mà chỉ là hình ảnh của ý thức, một cấu trúc của những biểu tượng mang tính quy ước được hình thành nhờ vào giác quan của con người. Berkeley, kẻ thù không đội trời chung của chủ nghĩa duy vật, phát biểu như sau: “Cả thiên thần trên trời lẫn đồ đạc dưới mặt đất, nói một cách ngắn gọn, tất cả những vật thể tạo nên cái cấu trúc vững chãi của thế giới này, đều không phải là những thực thể nếu không có tâm thức… Chừng nào mà chúng không thực sự được tri nhận bởi con người, hoặc không tồn tại trong tâm thức,… thì chúng không thể hiện hữu; bằng không thì chúng phải hiện hữu trong tâm thức của một đấng siêu linh bất diệt nào đó.” Einstein đã đưa chuỗi lập luận này đến giới hạn cuối cùng của nó bằng cách cho thấy rằng ngay cả không gian và thời gian cũng chỉ là những hình thức của trực giác, cái không thể tách ra khỏi ý thức, tương tự như sự phụ thuộc vào nó của các ý niệm về màu sắc, hình dáng, kích thước. Không gian không có thực tại khách quan, ngoại trừ việc là một trật tự hoặc sự sắp đặt của các vật thể mà chúng ta tri nhận; đồng thời thời gian không tồn tại độc lập với trật tự của các biến cố mà nhờ chúng, chúng ta lượng định thời gian.

***

Sự nhận thức rằng toàn bộ hiểu biết của chúng ta về vũ trụ đơn giản chì là “cái còn lại” của những cảm giác bị các giác quan bất toàn che mờ đã khiến cho cuộc truy tìm thực tại càng có vẻ vô vọng. Nếu như không có gì tồn tại ngoại trừ sự nhận thức, thì thế giới này sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn những sự nhận thức cá nhân. Nhưng một mệnh lệnh kỳ lạ đã thâm nhậm vào sự nhận thức của chúng ta, như thể có một “tầng ngầm” thực tại khách quan nào đó mà các giác quan của chúng ta có thể nắm bắt được. Mặc dầu không ai biết được sự cảm nhận màu đỏ, hoặc nốt Do, của mình có giống với sự cảm nhận của người khác về chúng hay không, nhưng hoàn toàn có thể cho rằng mọi người ít nhiều đều nhìn thấy màu sắc và nghe thấy âm thanh một cách giống nhau.

Berkeley, Descartes và Spinoza đã quy cho Thượng đế là người tạo ra sự hài hòa hữu ích của thiên nhiên. Các nhà vật lý học hiện đại, những người thích giải quyết vấn đề của họ mà không cần đến sự hiện diện của Thượng đế (mặc dầu làm như vậy dường như lúc nào cũng sẽ khó khăn hơn), nhấn mạnh rằng thiên nhiên hoạt động một cách huyền nhiệm dựa trên các nguyên lý toán học. Chính tính chính thống của toán học về vũ trụ đã làm cho các lý luận gia muốn Einstein tiên đoán và khám phá các quy luật tự nhiên bằng giải pháp của các phương trình. Nhưng điều nghịch lý của vật lý học ngày nay là trước mọi sự hoàn thiện trong công cụ toán học, thì cái vực thẳm giữa con người trong vai trò kẻ quan sát và thế giới khách quan của sự mô tả khoa học càng trở nên rộng lớn.

Có lẽ ý nghĩa của điều này là, nếu xét về phương diện độ lớn, con người là vật trung gian giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Nó một cách nôm na, điều này có nghĩa rằng một tinh cầu màu đỏ khổng lồ nào đó (vật thể lớn nhất trong vũ trụ) thì lớn hơn con người rất nhiều, trong khi một electron (vật thể bé nhỏ nhất của các thực thể vật lý) thì nhỏ hơn. Do đó, không hề ngạc nhiên trước sự việc rằng những điều huyền nhiệm của tự nhiên luôn luôn hàm chứa trong các lãnh vực này, những lãnh vực đã bị đẩy thật xa khỏi tầm hiểu biết của con-người-bị-giác-quan-giam-hãm; và cũng không có gì ngạc nhiên trước sự việc khoa học – khi không thể mô tả được cái tận cùng của thực tại bằng sự ẩn dụ dung dị của vật lý học cổ điển — sẽ phải tự hài lòng với việc chú ý đến các mối tương quan toán học một khi chúng được khám phá.

III

Các nhà vũ trụ học hầu như đều giữ thái độ im lặng trước câu hỏi về nguồn gốc tối hậu, đồng thời để vấn đề này cho các triết gia và thần học giải quyết. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm thuần túy trong số các khoa học gia hiện đại mới xoay lưng trước điều bí ẩn đang nằm bên dưới thực tại vật chất. Einstein, người mà có triết lý khoa học lắm khi bị phê bình là duy vật, đã từng phát biểu:

Cảm xúc tuyệt đẹp và sâu lắng nhất mà chúng ta có thể trải qua là sự cảm nhận về điều huyền bí. Đó là kẻ gieo hạt cho mọi ngành khoa học đích thực. Kẻ mà cảm thấy xa lạ với cảm xúc này, và không còn có thể ngạc nhiên và chết sững vì kính sợ, là một con người hầu như đã chết. Biết rằng điều mà chúng ta không thể lãnh hội được thực sự vẫn tồn tại, đồng thời tự biểu lộ như là một sự thông tuệ cao cả nhất, như là một vẻ đẹp lộng lẫy nhất mà khả năng bé mọn của chúng ta chỉ có thể cảm nhận được các hình thức sơ khai nhất của nó — sự hiểu biết này, sự cảm nhận này liên quan đến đặc tính tôn giáo đích thực.

Và trong một dịp khác, ông tuyên bố, “Kinh nghiệm tôn giáo về vũ trụ là một động lực cao cả và mạnh mẽ nhất của việc nghiên cứu khoa học.” Hầu hết các khoa học gia, khi đề cập đến các điều huyền nhiệm của vũ trụ, đến các sức mạnh vô biên, đến nguồn gốc, tính hữu lý và sự hài hòa của nó, đều có khuynh hướng tránh dùng từ Thượng đế. Tuy nhiên, Einstein, người bị xem là kẻ vô thần, lại không có sự tránh né như thế. “Tôn giáo của tôi,” ông nói, “là sự thán phục dành cho đấng siêu linh có khả năng vô biên, đấng đã tự mặc khải trong những sự kiện bé nhỏ mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng một tâm trí yếu ớt, mong manh. Niềm tin sâu sắc và cảm động về sự hiện hữu của một sức mạnh siêu việt, cái được bộc lộ bằng một vũ trụ không thể hiểu nỗi, đã hình thành ý niệm Thượng đế của tôi.”

Về phía khoa học, hiện có hai cửa ngõ hứa hẹn cho triển vọng đến gần thực tại vật chất hơn. Cửa ngõ thứ nhất là đại viễn vọng kính đặt trên đỉnh núi Palomar, California. Viễn vọng kính này có thể đưa tầm nhìn của con người đến một vực thẳm không gian và thời gian sâu xa hơn bất cứ những gì được các nhà thiên văn học mơ ước cách đây một thế hệ. Cho đến gần đây, tầm nhìn tối đa của viễn vọng kính, về cơ bản, đã vươn tới các thiên hà cách chúng ta 500 triệu năm ánh sáng. Nhưng gương phản xạ đường kính 5.08 m của viễn vọng kính Palomar đã nâng tầm nhìn ấy lên gấp đôi, giúp con người có thể nhìn xa hơn nữa. Nó đã cho chúng ta thấy nhiều vùng không gian thuần nhất mới lạ và hàng vạn thiên hà xa xôi mà ánh sáng chết của nó đã mất một tỷ năm mới có thể lan truyền đến trái đất. Nhưng nó cũng có thể cho thấy nhiều thứ khác nữa – các sự biến đổi về mật độ vật chất hoặc bằng chứng hình ảnh về độ cong của không gian, để từ dó con người có thể tính toán chính xác kích thước của vũ trụ mà trong đó anh ta là một cư dân tầm thường và vô nghĩa.

Cửa ngõ thứ hai đưa đến sự hiểu biết này có thể được mở ra nhờ vào sự phát triển và khảo sát xa hơn về thuyết về Trường thống nhất mà Einstein đã cật lực nghiên cứu trong suốt hai mươi lăm năm cuối của cuộc đời ông. Ngày nay, các giới hạn bên ngoài của sự hiểu biết của con người đã được minh định bằng thuyết Tương đối, các giới hạn bên trong bằng thuyết Lượng tử. Thuyết Tương đối đã định hình mọi quan niệm của chúng ta về không gian, thời gian, trọng trường và các thực tế xa xôi và rộng lớn không thể cảm nhận được. Thuyết Lượng tử hình thành mọi quan niệm của chúng ta về nguyên tử, đơn vị căn bản của vật chất và năng lượng, và các thực tế nhỏ bé, khó nằm bắt và không thể cảm nhận được. Tuy nhiên, hai lý thuyết khoa học đồ sộ này lại dựa trên các nền tảng lý thuyết không liên quan với nhau và hoàn toàn khác nhau. Điều này giống như là chúng không nói cùng một ngôn ngữ. Mục đích của Thuyết về Trường thống nhất là nhằm xây dựng một nhịp cầu giữa chúng. Khi tin vào sự hòa hợp và tính đồng nhất của tự nhiên, Einstein đã phát triển một cơ cấu định luật vật lý để dung chứa cả các hiện tượng xuất phát từ nguyên tử và các hiện tượng ngoài không gian.

Một Thuyết về Trường thống nhất hoàn hảo thì luôn luôn chạm đến “mục tiêu cao cả của mọi ngành khoa học,” điều mà, như Einstein có lần định nghĩa, “sẽ bao quát số lượng lớn nhất các sự kiện do kinh nghiệm mà có bằng sự suy diễn hợp lý từ số lượng nhỏ nhất có thể được của các giả thuyết hoặc tiên đề.” Lòng thôi thúc củng cố các giả thuyết, hợp nhất các quan niệm, thâm nhập vào tính đa dạng và nét đặc thù của thế giới có thể nhìn thấy được để vươn tới sự thống nhất bất khả phân đang nằm ở phía trước không chỉ là chất men của khoa học; nó còn là nỗi đam mê cao quý nhất của trí năng con người. Triết gia và những người thần bí, cũng như khoa học gia, thông qua các phương pháp rèn luyện nội quan khác nhau, luôn luôn tìm cách đạt đến sự hiểu biết về bản thể tối hậu bất biến đang nằm chống đỡ bên dưới cái thế giới hư ảo biến dịch bên trên. Hơn hai mươi ba thế kỷ trước, Plato đã tuyên bố, “Kẻ yêu chuộng tri thức đích thực luôn luôn cố gắng để nắm được hữu thể… Anh ta sẽ không ngừng lại ở các hiện tượng mà sự tồn tại của chúng chỉ là dung mạo bên ngoài.”

* * *

Nhưng điều mỉa mai trong cuộc truy tìm thực tại của con người là khi tự nhiên bị lột đi các lớp vỏ ngụy trang, khi trật tự xuất hiện từ sự hỗn mang và thống nhất khởi nguồn từ tính đa dạng, khi các ý niệm hợp nhất và các quy luận cơ bản ngày càng khoác lấy một hình thức giản dị hơn, thì bức tranh tiến hóa càng lúc càng xa rời kinh nghiệm hơn bao giờ hết – xa lạ và khó nhận ra hơn rất nhiều so với khung xương bên dưới một khuôn mặt quen thuộc. Bởi vì nơi mà sự xếp đặt của bộ xương sọ đã định sẵn đường nét của các mô mà nó chống đỡ, thì không hề có sự giống nhau giữa hình ảnh của một cái cây được các giác quan của chúng ta ghi lại và hình ảnh được đề xuất bởi cơ học ba động (wave mechanics), hoặc giữa một cái nhìn thoáng qua về bầu trời đầy sao vào một đêm hè và miền liên tục (continuum) bốn chiều đã thay thế không gian cảm giác Euclide của chúng ta.

Khi cố gắng phân biệt biểu hiện bên ngoài với thực tại và lột trần cấu trúc căn bản của vũ trụ, khoa học đã phải vượt qua “sự phồn tạp của giác quan.” Nhưng cấu trúc cao cả nhất của nó, như Einstein đã chỉ ra, “đã bị bán đi bằng cái giá của sự trống rỗng về nội dung.” Quan niệm có tính lý thuyết đã trống rỗng về nội dung đến mức độ rằng nó đã bị tách ra khỏi kinh nghiệm giác quan; bởi vì thế giới duy nhất mà con người biết được là cái thế giới được tạo ra cho anh ta thông qua các giác quan của chính anh ta. Nếu anh ta xóa hết mọi ấn tượng mà chúng diễn dịch và được lưu trữ trong ký ức, thì không còn điều gì tồn tại nữa cả. Đó là điều mà triết gia Hegel muốn nói qua lời nhận xét bí ẩn: “Hữu thể thuần túy và Vô thể đều như nhau.” Tình trạng tồn tại mà không có sự tương hợp sẽ không có ý nghĩa. Thật là nghịch lý, điều mà khoa học gia và triết gia gọi là thế giới của sự biểu hiện bề ngoài — thế giới của ánh sáng và màu sắc, của bầu trời xanh lơ và hoa tươi lá thắm, của cơn gió thoảng và dòng nước rì rào, thế giới được định đoạt bởi chức năng sinh lý của các giác quan – là thế giới mà trong đó con người hữu hạn bị giam cầm bởi chính bản chất cố hữu của anh ta. Và điều mà khoa học gia và triết gia gọi là thế giới thực tại – vũ trụ không màu sắc, không âm thanh, khó nhận thức được, cái vũ trụ nằm như một tảng băng bên dưới mặt phẳng nhận thức của con người — lại là khung xương của mọi biểu tượng.

Trong dòng tiến hóa của tư tưởng khoa học, một sự kiện đã trở nên hết sức rõ ràng, đó là: không có điều bí ẩn nào của thế giới vật chất mà lại không đưa đến một điều bí ẩn nằm đằng sau nó. Mọi xa lộ tri thức, mọi ngõ rẽ lý thuyết, mọi ước đoán, cuối cùng, đều dẫn đến một vực thẳm mà sự khôn ngoan của con người không bao giờ có thể lấp đầy và vượt qua; lý do là vì con người bị trói buộc bởi chính điều kiện tồn tại, tính hữu hạn và các hoạt động của chính mình trong thế giới tự nhiên. Anh ta càng vươn xa hơn, thì anh ta càng nhận rõ sự thật này, theo lời nhà vật lý Niels Bohr, “chúng ta vừa là khán giả, vừa là diễn viên, trong vở kịch vĩ đại của sự tồn tại.” Vì thế, con người là sự bí ẩn của chính anh ta. Anh ta không hiểu được cái vũ trụ bao la đang bị che phủ, cái vũ trụ mà anh ta đã bị ném vào vì lý do rằng anh ta không hiểu chính mình. Anh ta chỉ hiểu một ít về các quy trình hữu cơ trong anh ta, và thậm chí hiểu biết còn ít hơn như thế về cái khả năng nhận thức thế giới xung quanh rất độc đáo của mình, để có thể lý giải, để có thể ước mơ. Nhưng ít nhất, anh ta cũng hiểu được khả năng cao quý và diệu kỳ nhất của mình, đó là: khả năng vượt qua và cảm nhận chính mình trong hành vi nhận thức.

Điểm bế tắc của con người nằm ở chỗ anh ta là một phần của cái thế giới mà anh ta tìm cách khám phá; cơ thể và bộ não kiêu hãnh của anh ta sự tập hợp của các phần tử căn bản giống như những phần tử tạo nên bóng tối, những đám mây bụi đang dật dờ bay trong khoảng không bao la giữa các vì sao; anh ta chỉ là, nói cho kỳ cùng, thể dạng phù du của trường không gian-thời gian nguyên khởi. Khi đứng lơ lửng giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô, anh ta nhìn đâu cũng thấy những rào cản, và có lẽ chỉ còn biết kinh ngạc mà thốt lên rằng, như thánh Paul đã từng một ngàn chín trăm năm về trước, “thế giới được sáng tạo bằng ngôn lời của Thượng đế, khiến cho cái được thấy đều được làm từ cái không bao giờ xuất hiện.”

____________

[1] “Giáo sư emeritus” (professor emeritus) là một giáo sư thực thụ, thường đã làm việc toàn thời gian, nhưng hiện tại đã nghỉ hưu, không còn giảng dạy hay tiến hành nhiều nghiên cứu nữa; và tuy nghỉ hưu, ông vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết trình, giảng dạy, tham khảo ý kiến hay được trao một giải thưởng nào đó. (chú thích này ND sao lại từ website của Giáo phận Ban Mê Thuột, tại http://gpbanmethuot.vn/content/t%E1%BB%AB-v%E1%BB%B1ng-c%C3%B4ng-gi%C3%A1o-emeritus-danh-d%E1%BB%B1-c%E1%BB%B1u-nguy%C3%AAn?page=21

18. Charles Sanders Pierce – Quan điểm Khoa học và Thuyết Có thể Sai lầm

Giới thiệu:

Không phải sau một vài năm sau khi qua đời vào năm 1914 thì Charles Sanders Pierce mới được nhìn nhận là một nhà văn kiệt xuất; cho đến nay, ông còn được liệt vào một trong số các triết gia Mỹ tài năng và có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất. Ông chào đời năm 1839 tại Cambridge, Massachusetts, và là con của một nhà toán học lỗi lạc, người đã khuyến khích lòng đam mê toán học và khoa học sớm nảy nở nơi ông, đồng thời đã gieo vào tâm trí ông mối hoài nghi ngày càng gia tăng đối với các triết lý được thừa nhận trong thời đại của ông. Pierce theo học tại Harvard, nơi ông chỉ giao du với một nhóm nhỏ bằng hữu trí thức, và sau đó làm việc ít năm cho Cơ quan Trắc địa của chánh phủ liên bang. Lúc sinh thời, chưa bao giờ ông nhận được một sự thừa nhận về mặt học thuật nào dành cho khả năng tri thức hoàn toàn xứng đáng của mình. Trong tiểu luận Concerning the Author (phần thứ nhất của tiểu luận này sẽ được giới thiệu dưới đây), Pierce kể về nền giáo dục sâu rộng mà ông thụ nhận. Ông giải thích rằng ông hoàn toàn đủ khả năng viết về khoa học, bởi vì trước đó ông đã được học vật lý, hóa học và toán học. Ông còn cẩn trọng nói thêm ông cũng đã nghiên cứu thấu đáo về triết học và luận lý học, vì sợ rằng người ta có thể nghĩ khi ông đánh giá thấp về các triết gia, thì điều ông nói vốn xuất phát từ định kiến hoặc sự không hiểu biết.

Hai bài tiểu luận được giới thiệu trong tập sách này sẽ mang đến sự mô tả xuất sắc về quan điểm khoa học như là một sự hiểu biết trực tiếp của Pierce. Chúng là một lời đáp bổ ích cho các nhà khoa học nghiệp dư, những người thường có giọng điệu “cả quyết” về sự hiểu biết của họ, và cho các triết gia nghiệp dư, những người thường lên án khoa học như thể là chính họ là kẻ đã đạt được chân lý tối hậu. Ý nghĩa của “tính khiêm cung” của các khoa học gia chân chính, sự tìm kiếm chân lý, vì sự lợi ích của chính chân lý, một cách miệt mài của nhà khoa học, tầm quan trọng, một mặt, của óc sáng tạo, và mặt khác, của sự tận hiến cho sự thật — tất cả những điều này có chỗ đứng thật rõ ràng và nổi bật trong tinh thần khoa học mà Pierce đã khắc họa một cách khéo léo.

Là một tư tưởng gia độc đáo, Pierce đã đề xuất nhiều ý tưởng mà ngày nay được nhiều người ủng hộ, đồng thời ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc định hình tư tưởng khoa học hiện đại. Trong thập niên 1930, các nhà thực chứng luận lý, hiện đang là những kẻ cổ súy có ảnh hưởng nhất cho một triết lý khoa học triệt để, đã ca ngợi Pierce là người tiên phong vĩ đại đối với những quan điểm mà họ đang theo đuổi. Ba mươi năm trước đó, William James, một nhân vật sớm được nhìn nhận là triết gia vĩ đại đầu tiên của nước Mỹ, đã mượn của Pierce ý tưởng về thuyết thực dụng, cái mà sau đó James đã biến thành một triết lý phổ biến nhất tại đất nước này. Thực vậy, James rất ngưỡng mộ Pierce và là một trong số ít người công nhận tầm vóc Pierce khi ông còn sinh thời.

Pierce chỉ xuất bản một cuốn sách duy nhất trong suốt cuộc đời của mình. Trong trích đoạn dưới đây, khi nói một cách hài lòng về một tác phẩm sắp ấn hành, ông đã đề cập đến một ước vọng lớn lao, một ước vọng không bao giờ trở thành hiện thực. Tuy nhiên, khoảng hai mươi năm sau khi ông qua đời, những nhà biên tập ngưỡng mộ ông đã xuất bản Collected Papers (1931 – 1935) gồm sáu bộ của ông. Hai bài tiểu luận dưới đây được trích trong The Philosophy of Pierce: Selected Writing, một tác phẩm thậm chí chỉ được ấn hành mới đây, năm 1940.

__________

I

Về tác giả

Độc giả có quyền biết cách thức hình thành quan điểm của tác giả. Cố nhiên, không phải vì anh ta được trông đợi chấp thuận bất cứ kết luận nào không nảy sinh từ sự lập luận. Nhưng trong các cuộc luận bàn về những điều vô cùng khó khăn như thế này, khi mà sự xét đoán đúng đắn là một nhân tố có tính chi phối, và sự suy luận thuần túy không phải là điểm then chốt duy nhất, thì nhất thiết phải cân nhắc mọi yếu tố liên quan. Vả lại, từ khoảnh khắc mà tôi biết suy nghĩ cho đến bây giờ, một quãng thời gian dài độ bốn mươi năm, tôi đã dành hết thì giờ và tâm sức cho việc nghiên cứu các phương pháp tìm kiếm sự thật, cả những phương pháp đã và hiện được theo đuổi, lẫn những phương pháp sẽ được theo đuổi. Khoảng mười năm trước khi cuộc nghiên cứu này bắt đầu, tôi được đào luyện trong một phòng thí nghiệm hóa học. Tôi được truyền thụ một cách thấu đáo không chỉ tât cả những kiến thức về hóa học và vật lý học, mà còn được thụ nhận cách thức bước đi của những người đã thành công trong việc thúc đẩy sự hiểu biết. Tôi đã chú tâm một cách tối đa vào các phương pháp nghiên cứu của những ngành khoa học chính xác, đã cảm thông sâu sắc với một vài nhân vật vĩ đại nhất của thời đại chúng ta trong lãnh vực khoa học tự nhiên, đồng thời cũng có những đóng góp tích cực – tuy không phải sự đóng góp nào cũng mang tính chất trọng đại – vào ngành toán học, quang học, hóa học, thiên văn học v.v… Dần dần, trong tôi đã hoàn toàn thấm đẫm tinh thần khoa học. Tôi từng là một người học luận lý học một cách chuyên cần, đã đọc nhiều thứ quan trọng và không quan trọng về đề tài này, đã dành nhiều thời gian cho tư tưởng trung cổ mà không hề lơ là các tác phẩm của người Hy-lạp, người Anh, người Đức, người Pháp…, đồng thời cũng đã tự mình đưa ra một hệ thống luận lý học cả về diễn dịch lẫn quy nạp. Trong lãnh vực siêu hình học, sự hiểu biết của tôi ít mang tính hệ thống; tuy nhiên, tôi đã đọc và suy tư sâu sắc về tất cả các hệ thống chính yếu, nhưng không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, cho đến khi nào có thể cảm nghiệm về chúng giống như những người ủng hộ chúng đã cảm nghiệm.

Những cuốn sách triết lý đầu tiên mà tôi đã đọc là những cuốn viết về các trường phái triết học cổ điển Đức; và tôi đã thấm nhuần nhiều cách suy nghĩ của chúng, đến nỗi không bao giờ tôi có thể tự thoát ra khỏi chúng. Tuy nhiên, quan điểm của tôi lúc nào cũng là quan điểm của một người làm việc trong phòng thí nghiệm, chỉ thích tìm hiểu những gì mà tôi chưa biết, chứ không phải là quan điểm của các triết gia được dưỡng dục trong các ngôi trường thần học, nơi mà động lực tối thượng của chúng là dạy những gì mà họ tin là một sự thật bất khả sai lầm. Tôi thường bỏ ra hai giờ đồng hồ một ngày để nghiên cứu Critic of the Pure Reason (Phê phán Lý tính Thuần túy) của Kant trong quãng thời gian hơn ba năm, cho đến khi tôi hầu như thuộc lòng toàn bộ cuốn sách, và đã khảo sát một cách nghiêm túc mọi phần của cuốn sách đó. Trong hai năm trời, tôi đã có những cuộc thảo luận hàng ngày với Chauncey Wright, một trong những môn đồ nhạy bén nhất của J. S. Mill.

Do đó, nói một cách ngắn gọn, triết lý của tôi có thể được mô tả như là sự nỗ lực của một nhà vật lý học đưa ra sự ước đoán liên quan đến sự hình thành của vũ trụ bằng cách dựa trên các phương pháp khoa học có thể áp dụng được, cùng với sự trợ giúp của tất cả những gì mà các triết gia đã thực hiện trước đây. Tôi sẽ bảo vệ các ý tưởng của mình bằng bằng mọi lập luận mà tôi có thể đưa ra. Bằng chứng minh họa sẽ không được nghĩ đến. Mọi sự minh họa của các nhà siêu hình học đều có tính cách ảo tưởng. Điều tốt nhất có thể làm là cung cấp một giả thuyết nào đó, cái không phải không có khả năng xảy ra, trong đường hướng phát triển chung của các tư tưởng khoa học, và nó có thể được xác nhận hoặc bị bác bỏ bởi các nhà quan sát sau này.

Thực ra, thuyết bất khả sai lầm của tôn giáo, được nhìn nhận trong thời đại hiện nay, đã cho thấy các biểu hiện của sự tự tuyên bố rằng mình là cái duy nhất không thể sai lầm; và do đó, một khi nó tự thú nhận phải lệ thuộc vào sự biến đổi, thì không còn bất cứ di sản nào của thuyết bất khả sai lầm tốt đẹp của thế kỷ thứ mười có thể đứng vững, ngoại trừ hình ảnh còn lại của những khoa học gia bất khả sai lầm, một đề mục mà tôi đề cập đến bên dưới; đây không chỉ là loại khoa học gia đã sản sinh ra những quyển giáo lý và các bài thuyết pháp khoa học buồn tẻ, và cũng không chỉ là những khoa học gia đã tạo ra giáo hội và tín điều và “những nhà truyền giáo bẩm sinh”, mà còn là tất cả những nhân vật đáng kính và có giáo dục, những người mà, khi thủ đắc các ý niệm về khoa học bằng việc đọc, chứ không bằng sự nghiên cứu, quan niệm rằng “khoa học” có nghĩa là kiến thức, trong khi thật ra đó chỉ là một danh xưng không đúng, chỉ thích hợp cho các hoạt động của những ai bị cái khát vọng khám phá sự vật chế ngự.

Mặc dầu tính bất khả sai lầm trong các vấn đề khoa học, đối với tôi, dường như là một điều hết sức khôi hài, nhưng tôi sẽ rất buồn nếu như tôi không thể giữ lòng kính trọng đối với những ai vẫn tin tưởng vào nó, bởi vì họ là những người chưa bao giờ được đối thoại. Khi nói tin tưởng vào nó, tôi muốn nói rằng họ thừa nhận các chức năng của nó một cách tự nhiên và vô ý thức. Họ không bao giờ nhận thức được ý nghĩa trọn vẹn của câu cách ngôn nhân vô thập toàn. Trong các môn khoa học về đo lường vốn ít gặp sai sót nhất — chẳng hạn, đo lường học, trắc địa học, thiên văn học đo đạc – không một người tự trọng nào cho đến nay có thể công bố kết quả nghiên cứu của anh ta mà lại không kèm theo các chỉ số về khả năng sai sót; và nếu như thói quen này không thấy xuất hiện trong cách lãnh vực khoa học khác, thì điều đó là bởi vì trong các lãnh vực khoa học ấy khả năng sai sót quá lớn để có thể ước tính.

Chỉ một lần, theo như trí nhớ của tôi, trong đời, tôi đã trải qua cảm giác khoan khoái của sự ngợi khen – không phải vì những gì mà sự ngợi khen ấy mang đến, mà vì chính nó. Sự khoan khoái ấy thật hạnh phúc; và lời ngợi khen đã mang lại cảm giác khoan khoái cho tôi lại là một lời trách móc. Đó là việc một nhà phê bình đã nói về tôi rằng dường như tôi không bao giờ cảm thấy hoàn toàn chắc chắn về chính các kết luận của mình. Chưa bao giờ, nếu phải nói như vậy, nhà phê bình ấy để mắt đến những điều tôi hiện đang viết; nhờ có anh ta mà tôi hưởng được một niềm vui to lớn; và lòng căm ghét rành rành như thế của anh ta là điều mà anh ta sẽ sớm nhận ra, chỉ sợ rằng ngọn lửa địa ngục ấy lại được nuôi dưỡng bằng nguồn nhiên liệu mới trong lồng ngực của anh ta.

Sách của tôi không có lời huấn thị nào để truyền đạt cho mọi người. Giống như một luận thuyết về toán học, nó sẽ đề xuất những ý tưởng nào đó đồng thời đưa ra những lý lẽ nào đó để cho rằng các ý tưởng ấy đúng đắn; nhưng khi đó, nếu bạn thừa nhận chúng, thì có thể là vì bạn thích các lý lẽ của tôi, và trách nhiệm vẫn nằm về phía bạn. Con người vốn là động vật có tính xã hội: nhưng xã hội tính là một chuyện, tính bầy đàn là một chuyện khác. Sách của tôi được dành cho những ai muốn khám phá; và người nào cần món “súp” triết học thì có thể đi đến nơi khác. Có nhiều cửa hiệu bán “súp” triết học ở mọi góc đường, xin cảm ơn Thượng đế!

Sự trình bày các quan niệm của tôi là kết quả của ba mươi năm làm việc cần mẫn. Tôi đã không biết khi nào thì nên xuất bản chúng; sự chín muồi của chúng dường như diễn ra quá chậm chạp. Nhưng cuối cùng thì mùa gặt cũng đã đến, và đối với tôi, vụ mùa ấy vẫn còn sơ sài, nhưng tất nhiên tôi không phải là người đưa ra lời xét đoán. Cũng chẳng phải bạn, cá nhân người đọc; mà chính kinh nghiệm và lịch sử sẽ làm công việc ấy.

Nhiều năm trời, trong khi tiến trình chín muồi này đang diễn ra, tôi thường thu thập các ý tưởng của mình và đặt chúng vào phạm vi của một lý thuyết được mệnh danh là thuyết có thể sai lầm; và bước chân đầu tiên tiến về phía hành động khám phá là mạn phép coi như bạn không biết gì cả, để không một ảnh hưởng xấu nào có thể ngăn chặn sự phát triển tri thức như là sự ảnh hưởng của thói kiêu mạn; chín mươi chín phần trăm cái đầu thông tuệ đều trở nên bất lực vì thói kiêu mạn đó — lạ lùng thay, người ta thường không nhận biết được sự xâm nhập của nó.

Thực vậy, toàn bộ triết lý của tôi dường như luôn luôn xuất phát từ thuyết có thể sai lầm đầy tính ăn năn, đồng thời kết hợp với niềm tin cao cả vào sự thực tế của tri thức, và một ước vọng khám phá mãnh liệt.

II

Nếu cố gắng hình thành các quan niệm của mình dựa trên lịch sử và cuộc sống, thì chúng ta thấy rằng có ba dạng người. Dạng thứ nhất gồm những kẻ mà điều trọng yếu đối với họ là các xúc cảm. Những người này sáng tạo ra nghệ thuật. Dạng thứ hai gồm những kẻ thực dụng. Đây là những người can dự vào sự hoạt động của thế giới. Họ không tôn trọng điều gì cả, ngoài quyền lực, và chỉ tôn trọng quyền lực khi nào mà nó được thực thi. Dạng thứ ba gồm những người mà đối với họ không có điều gì là trọng đại, ngoại trừ lý lẽ. Nếu sức mạnh có làm cho họ lưu tâm đến, thì sự quan tâm ấy không nằm ở việc sử dụng sức mạnh, mà nằm ở sự việc rằng sức mạnh ấy có một lý lẽ và quy luật nào đó. Đối với dạng người thứ nhất, thiên nhiên là một bức tranh; với dạng thứ hai, là một vận hội; với dạng thứ ba, là một tổng thể hài hòa đáng ngưỡng vọng, cho đến nỗi xâm nhập vào các cách thức hoạt động của nó, đối với họ, dường như là điều duy nhất làm cho cuộc sống trở nên đáng sống. Đây là những người mà chúng ta nhận thấy họ bị ám ảnh bởi nỗi đam mê học hỏi, trong khi những người khác thì lại có nỗi đam mê dạy dỗ và gieo rắc sự ảnh hưởng của họ. Sở dĩ có lúc họ không dành toàn bộ thời gian cho nỗi đam mê học hỏi đó, là vì họ đang rèn luyện tính tự chế. Đây chính là những nhà khoa học tự nhiên, và họ là những người duy nhất đạt được sự thành công đích thực trong hoạt động nghiên cứu khoa học.

Nếu cần một định nghĩa về khoa học, không phải trong ý nghĩa của sự nhồi nhét nó vào ngăn kéo giả tạo, nơi mà nó có thể lại được tìm thấy bằng một nhãn hiệu vô nghĩa nào đó, nhưng trong ý nghĩa của việc mô tả nó như là một thực thể lịch sử sống động, thì chúng ta sẽ phải quan niệm nó như là cái mà những người như tôi vừa mô tả luôn luôn phải dành thời gian cho. Chỉ như thế, nó mới không nằm quá nhiều ở khía cạnh hiểu biết, thậm chí cũng không ở khía cạnh “tri thức đã được sắp xếp,” bởi vì nó đã như vậy trong quá trình miệt mài tìm kiếm sự thật vì chính lợi ích của sự thật, không hề có bất cứ loại mục đích cá nhân nào cần phải vươn tới, chứ không phải vì nỗi khoái cảm của việc chiêm nghiệm về nó, mà lại xuất phát từ sự thôi thúc phải thâm nhập vào cái căn lý của sự vật. Đây chính là ý nghĩa mà vì đó quyển sách này được mệnh danh là một dạng lịch sử khoa học. Khoa học và triết học dường như đã bị đổi thay ở điểm khởi nguồn của chúng. Bởi vì, không phải sự biết, mà chính lòng ham học hỏi, mới là cái hình thành đặc điểm của con người khoa học; trong khi đó, “triết gia” là một người cầm giữ một hệ thống mà ông ta nghĩ rằng đó là sự thể hiện của tất cả những gì đáng hểu biết nhất. Nếu một người khát khao học hỏi và cương quyết so sánh các ý tưởng của mình với kết quả thực nghiệm để có thể tu chỉnh các ý tưởng đó, thì tất cả những nhà khoa học sẽ coi người đó là một bậc đàn anh, cho dầu kiến thức của anh ta có nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa.

Nhưng nếu một người đắm chìm trong việc tìm kiếm sự thật đó vì một mục đích kín đáo nào đó, chẳng hạn như để kiếm tiền, hoặc để cải thiện đời sống, hoặc để làm lợi cho người của mình, thì anh ta có thể sẽ có ích hơn nhiều so với nhà khoa học, nhưng anh ta không phải là nhà khoa học. Thí dụ như, có nhiều nhà hóa học dành hết thời gian để nghiên cứu chuyên biệt về các loại thuốc nhuộm. Họ khám phá ra rằng chúng hữu ích cho ngành hóa học, nhưng họ không được liệt vào đội ngũ những nhà khoa học đích thực. Đồi với nhà hóa học đích thực, sự quan tâm tìm hiểu về chất erbium – tính cực hiếm của chất này làm cho nó không có tầm quan trọng về phương diện thương mại — lúc nào cũng ngang bằng với sự quan tâm tìm hiểu về bất cứ kim loại nào khác. Anh ta càng hăng say tìm hiểu về erbium hơn, nếu như sự hiểu biết về nó sẽ đóng góp nhiều hơn cho việc hoàn thiện ý niệm của anh ta về định luật tuần hoàn, một định luật mô tả mối quan hệ hỗ tương giữa các nguyên tố hóa học.

Khi một người có sự khát khao cháy bỏng trong việc khám phá sự thật, thì nỗ lực đầu tiên của anh ta sẽ là mường tượng xem sự thật ấy có thể là gì. Anh ta không thể tiếp tục hành trình tìm kiếm sự thật, mà lại không nhận thấy rằng sự tưởng tượng thiếu kềm chế chắc chắn sẽ ném anh ta ra khỏi con đường. Tuy nhiên, vẫn hoàn toàn đúng đắn khi nhận định rằng rốt lại không có điều gì ngoài sự tưởng tượng có thể mang lại cho anh ta một ý niệm mơ hồ về sự thật. Anh ta có thể có cái nhìn xuẩn động về các hiện tượng, nhưng khi thiếu vắng óc tưởng tượng, các hiện tượng ấy sẽ không đan kết lại với nhau theo một cách thức hữu lý. Chỉ có Peter Bell[1], thì cây anh thảo hoa vàng không là gì cả và chỉ là cây anh thảo hoa vàng; cũng vậy, với hàng ngàn người khác, một trái táo rơi xuống mặt đất chỉ là một trái táo rơi xuống mặt đất mà thôi; và so sánh nó với mặt trăng, đối với họ, là một hành động kỳ quặc.

Không có gì quá đáng khi nói rằng ngoài lòng đam mê học hỏi, không còn một yếu tố nào cần thiết bằng sự tưởng tượng trong công việc nghiên cứu khoa học. Hãy tìm cho tôi một dân tộc mà nền y học phôi thai của họ lại không gắn liền với ma thuật và bùa chú, và tôi sẽ tìm cho bạn một dân tộc hoàn toàn thiếu vắng mọi khả năng khoa học. Không hề có ma thuật trong sách y học Papyrus Ebers. Người Ai-cập lạnh lùng không hề thấy điều gì trong các chứng bệnh, ngoài sự rối loạn của bộ phận cơ thể bị tác động. Chưa bao giờ có một nền khoa học Ai-cập đích thực.

Rõ ràng là có nhiều loại tưởng tượng không có giá trị về phương diện khoa học. Chúng chỉ là sự tưởng tượng mang tính chất nghệ thuật, sự mơ ước về những vận hội cần đạt tới. Tưởng tượng khoa học mơ về những biện giải và quy luật.

III

Năm mươi năm qua đã dạy cho chúng ta một bài học về việc không được xem nhẹ các sự kiện thực tế, và không nên tin cậy vào các nguyên lý và phương pháp mà không được thiết lập một cách hợp lý trên sự kiện thực tế và chỉ được đưa ra nhằm để tống xuất bằng chứng ra khỏi sự suy xét.

Chẳng hạn như, đó chính là lời tuyên bố của Claude Bernard, một lời tuyên bố đã cho rằng bệnh tật không phải là một thực thể — đây quả là một lý thuyết siêu hình thuần túy. Nhưng sự quan sát thực tế đã dạy chúng ta rằng một chứng bệnh, trong nhiều, nếu không nói là hầu hết, trường hợp, vốn là một thực thể giống như một gia đình gồm có cha mẹ và con cái.

Chính lời tuyên bố của nền tâm lý học cũ kỹ này, một lý thuyết đã đồng nhất linh hồn với bản ngã, đã bày tỏ tính giản đơn tuyệt đối của bản ngã, rồi cho rằng mọi năng lực của nó chỉ là những danh xưng dành cho sự phân chia hợp lý trong hoạt động cùa con người. Đây quả là một điều tưởng tượng hoàn toàn. Sự quan sát thực tế đã dạy chúng ta rằng bản ngã chỉ là một gợn sóng của linh hồn, một đặc điểm hời hợt và nhỏ bé, rằng linh hồn có thể dung chứa nhiều phẩm tính, đồng thời cũng phức tạp như não bộ, và rằng các năng lực vừa nói, mặc dầu không thể định nghĩa một cách chính xác và không hoàn toàn cố định, cũng có thực như các nếp xoắn khác nhau của vỏ não.

Đó chính là những lời tuyên bố mà nhờ vào chúng, người ta đã đưa lời chỉ trích của chính các nhà nghiên cứu sử học về các tài liệu lịch sử đến một tầm mức rằng nó chẳng khác gì sự bác bỏ mọi cứ liệu hiện đã đến tay chúng ta, và chẳng khác gì sự thay thế nó bằng một ước mơ đang luẩn quẩn trong đầu của người phê bình. Nhưng các nhà nghiên cứu về khảo cổ học đã chứng minh rằng các bằng chứng cổ xưa phần lớn cần phải được tin cậy, kèm theo đó là một sự cân nhắc nhỏ dành cho các biến đổi ý nghĩa của ngôn từ. Khi được bảo Pythagore có bắp đùi vàng, thì chúng ta cần phải nhớ rằng đối với người thượng cổ, vàng không có nghĩa là một nguyên tố hóa học có trọng lượng nguyên tử là 197.5, khối lượng riêng là 19.3, nóng chảy ở nhiệt độ 1045oC, và hình thành các hợp chất có chứa muối theo dạng AuX và AuX3. Nó có nghĩa một cái gì đó có sự óng ánh như kim loại, ấm hơn hợp kim vàng bạc và dịu hơn đồng. Những khám phá của tiến sĩ Schliemann là một “cú đấm” quyết định mà ngành “văn hiến học phê phán lịch sử” (higher criticism) đã phải nhận lãnh. Sau đó, nó còn phải chịu nhiều “cú đấm” khác nữa.

Đó chính là những lời tuyên bố mà nhờ vào chúng, mọi thứ thuộc về bản chất của những năng lực phi thường, khi kết hợp với các tình trạng tâm lý, mà trong đó, trạng thái bị thôi miên là một ví dụ, đã được giải thích là những trò gian trá. Hiện nay, trong khi sự tồn tại của năng lực ngoại cảm chưa được xác minh, thì tất cả các nhà khoa học đều có bổn phận phải, thông qua việc quan sát sự kiện thực tế, thừa nhận rằng ít nhất, đó là một vấn đề rất nghiêm túc và cần phải có phương cách xử sự thật tôn trọng đối với nó.

Những người biết đến khoa học chủ yếu chỉ bằng các kết quả của nó – nghĩa là không hề gắn bó với nó như là một sự tìm tòi sống động — thường có khuynh hướng quan niệm rằng hiện nay mọi đặc điểm trọng yếu của vũ trụ đã được lý giải hoàn toàn; và rằng chỉ có đôi chỗ, đôi lúc thì bức màn tri thức khoa học mới bộc lộ vết rách.

Nhưng thực ra, bất kể những gì đã được khám phá kể từ thời Newton, thì lời phát biểu của ông rằng chúng ta chỉ là những đứa trẻ đang nhặt nhạnh những hòn cuội trên bãi biển, trong khi đại dương phía trước vẫn chưa được khám phá, về căn bản, vẫn luôn luôn đúng, và cũng sẽ mãi mãi đúng, dẫu cho chúng ta có xúc những hòn cuội bằng máy xúc để chất chúng lên xe tải. Một tỷ số vô cùng bé có thể được tăng liên tục lên gấp bội và vẫn nằm trong tình trạng vô cùng bé.

Sẽ vô cùng lầm lẫn khi cho rằng đầu óc của nhà khoa học tích cực luôn luôn đầy ắp những định đề, dẫu chưa được chứng minh để không còn bất cứ sự phản đối hữu lý nào, vẫn hoàn toàn có khả năng là xác thực. Trái lại, ông ta thường ấp ủ các giả thuyết hầu như là vô cùng khó tin, và rất trân quý chúng. Tại sao ông ta làm như vậy? Đơn giản là vì bất cứ định đề khoa học nào, dù khả tín đến đâu đi chăng nữa, cũng có thể bị sớm phản bác và bỏ rơi. Giả thuyết là một cái gì đó trông có vẻ là điều chân xác và có thể đúng, đồng thời là cái có khả năng xác minh hoặc phản bác bằng cách so sánh với các sự kiện thực tế. Giả thuyết tốt nhất, theo ý nghĩa là điều hấp dẫn nhất đối với người tìm kiếm sự thật, là cái có thể dễ dàng phản bác nhất nếu như nó không đúng. Điều này quan trọng hơn rất nhiều so với lợi điểm vặt vãnh của giả thuyết có vẻ phù hợp với sự thật. Nhưng giả thuyết có vẻ phù hợp với sự thật là gì? Nó là cái trùng hợp với những ý niệm sẵn có của chúng ta. Nhưng những ý niệm này có thể sai. Những sai lầm của chúng là điều mà nhà khoa học rất khó nhận ra. Nhưng nếu một giả thuyết có thể bị loại bỏ một cách dễ dàng và nhanh chóng để thu dọn chiến trường cho trận chiến quan trọng, thì đó là một ưu thế to lớn vô cùng.

IV

Từ quy luật của lý trí rằng để có thể học hỏi, bạn phải khát khao học hỏi, đồng thời không được thỏa mãn với những gì mà bạn suy nghĩ, đã dẫn đến một hệ quả như sau, một hệ quả xứng đáng được khắc ghi trên mọi bức tường của kinh thành triết học:

Đừng bao giờ phong tỏa con đường tìm hiểu sự thật.

Dẫu cần phải làm việc cẩn trọng và có phương pháp trong nghiên cứu, và dẫu cần phải cân nhắc các yếu tố kinh tế của việc nghiên cứu, nhưng không có gì là sai trái trong việc thử nghiệm bất cứ lý thuyết nào nảy sinh trong đầu chúng ta, miễn là nó được áp dụng theo một ý nghĩa là nhằm làm cho cuộc nghiên cứu không bị trở ngại và ngưng trệ vì sự nản chí. Mặt khác, dựng lên một triết lý mà cản trở con đường tìm kiếm sự thật là một lỗi lầm không thể dung thứ trong sự suy luận; đây là điều mà các nhà siêu hình học thuộc mọi thời đại không hề tránh được.

Tôi xin lưu ý các bạn bốn hình thức quen thuộc, qua đó lỗi lầm tai hại này đã công phá sự hiểu biết của chúng ta.

Đầu tiên là sự cả quyết tuyệt đối. Sự thật ngàn đời là trong khoa học, chúng ta không thể chắc chắn về điều gì cả. Học viện của Plato đã dạy như thế. Tuy nhiên, khoa học đã bị phá hoại bằng sự cả quyết thái quá, đặc biệt là đối với những người mà công việc của họ là truyền dạy tri thức nhiều hơn là nghiên cứu. Rõ ràng một số bộ môn hình học vẫn dạy một định đề, với tư cách là một điều hiển nhiên đúng, rằng nếu hai đường thẳng nằm trên một mặt phẳng bị cắt bởi một đường thẳng thứ ba sao cho tổng số đo hai góc trong của một bên nhỏ hơn 180o, thì hai đường thẳng ấy sẽ cắt nhau, nếu được kéo đủ dài. Euclid, người có lập luận cẩn trọng hơn, chỉ xem định đề này như là một giả định, hoặc một giả thuyết tùy tiện. Tuy nhiên, ông cũng đã đưa vào các tiên đề của mình một định đề rằng một phần thì luôn luôn nhỏ hơn cái toàn thể chứa nó, và do đó đã có nhiều điều mâu thuẫn với hình học hiện đại của chúng ta. Nhưng tại sao chúng ta phải dừng lại để xem xét các trường hợp, mà trong đó người ta cần phải có sự suy nghĩ khôn ngoan để nhìn thấy rằng sự cả quyết không là điều bảo đảm cho sự thật, một khi mọi cuốn sách đưa triết lý vào việc xếp đặt cuộc sống đều được đặt ra như là những định đề chắc chắn đúng, những cái mà chúng ta hoàn toàn dễ dàng nghi ngờ cũng như là tin theo?

Hình thức quen thuộc thứ hai là rào cản mà các triết gia thường dựng ngang con đường tìm kiếm sự thật bằng cách cho rằng điều này, điều nọ hoặc điều kia là những cái không bao giờ có thể hiểu được. Khi Auguste Comte bị thúc giục phải minh định một vấn đề xác thực nào, mà sự hiểu biết về chúng là điều không một người nào có đủ khả năng lãnh hội, ông liền đưa cấu tạo hóa học của các định tinh ra làm ví dụ; bạn có thể xem lời đáp của ông trong tác phẩm Philosophie positive. Nhưng mực hầu như chưa khô hẳn trên trang giấy khi kính quang phổ được khám phá, và điều mà trước đó ông đã tưởng rằng không thể biết, thì nay lại đang trong tiến trình được khẳng định. Thật dễ dàng khi đề cập đến một vấn đề mà lời đáp của nó, đối với tôi, hiện nay chưa được biết. Nhưng khẳng định rằng lời đáp ấy sẽ không được tìm ra trong tương lai là một hành động rất mạo hiểm; bởi vì lắm khi chính sự thật ít được trông đợi nhất lại là cái mà lưỡi cày nghiên cứu thường tình cờ xới lên. Và khi cả quyết rằng sự thật sẽ không bao giờ bị khám phá dưới ánh sáng lịch sử của thời đại chúng ta, thì đối với tôi, sự cả quyết này còn nguy hiểm hơn cả những hành động liều lĩnh của Andrée[2].

Hình thức quen thuộc thứ ba là sự lường gạt có tính chất triết học nhằm ngăn chặn cuộc truy tìm sự thật. Lập luận của sự lường gạt này thường có luận điệu như sau: yếu tố khoa học này, yếu tố khoa học nọ là những yếu tố căn bản, có tính chất tối thượng, có vị trí độc lập với tất cả những yếu tố khác và hoàn toàn không thể giải thích được — ngoại trừ những khiếm khuyết trong sự hiểu biết của chúng ta, không có gì là đáng kể, bởi vì không có gì đáng để tìm hiểu cả. Lập luận kiểu này có tên là lập luận suy diễn (retroduction), loại lập luận mà nhờ vào nó câu kết luận như trên mới có thể được đưa ra. Không điều gì biện minh cho sự kết luận có tính chất suy diễn, ngoại trừ việc nó tự tạo ra sự giải thích cho các sự kiện. Tuy nhiên, đó không phải là sự giải thích gì cả đối với một sự kiện, khi mà tuyên bố rằng sự kiện ấy không thể giải thích được. Do vậy, nó là một lời kết luận mà không một lập luận nào có thể được dùng để biện giải.

Trở ngại triết lý cuối cùng trong hành trình nâng cao sự hiểu biết mà tôi muốn đề cập đến là hành động cho rằng quy luật này hay sự thật nọ đã khám phá ra công thức hoàn hảo cho chính nó – và đặc biệt là cho rằng lối đi thông thường của tự nhiên không bao giờ có thể bị xô lệch. “Hòn đá không từ trên trời rơi xuống,” Laplace nói, cho dầu mỗi ngày, chúng đều rơi xuống mặt đất lắm người này từ ngàn xưa. Nhưng không có loại suy luận nào làm cho lời phủ nhận tuyệt đối như thế về một hiện tượng bất bình thường có thể tin được, dù chỉ là một niềm tin nhỏ nhoi nhất.

Tất cả mọi lập luận cả quyết đều xuất phát từ hành động xét đoán một phần sự vật nằm trong một tập hợp toàn thể bằng cái phần được khám phá trong một vật mẫu nào đó. Do vậy, có ba điều mà chúng ta không bao giờ có thể hy vọng đạt được bằng lập luận; đó là, sự chắc chắn tuyệt đối, tính chính xác tuyệt đối, tính phổ quát tuyệt đối. Thậm chí, chúng ta hoàn toàn không thể chắc chắn rằng mọi kết luận của mình đều gần đúng; bởi vì vật mẫu có thể khác với bộ phận không được chọn làm mẫu của tập hợp. Chúng ta ngay cả cũng không thể giả vờ rằng mình có thể đúng, bởi vì vật mẫu chỉ bao gồm một số lượng xác định các trường hợp và chỉ thừa nhận giá trị đặc biệt của vật mẫu được nhắm tới. Cuối cùng, thậm chí nếu như chúng ta có thể khẳng định bằng một cách chắc chắn và chính xác tuyệt đối rằng tỷ lệ người phạm tội trong tất cả mọi người là 1:1, thì trong số nhiều thế hệ người bất định đó, vẫn có thể còn chỗ cho một số lượng xác định người vô tội mà không hề vi phạm đến tỉ lệ ấy. Trường hợp này cũng giống với trường hợp con bê bảy chân nào đó.

Nếu tính chính xác, tính chắc chắn và tính phổ quát không thể đạt được bằng lập luận, thì chắc chắn không thể vươn tới các đặc tính này bằng bất cứ phương tiện nào khác.

Có người sẽ gợi ý về sự mặc khải. Nhiều khoa học gia và những người chịu ảnh hưởng của khoa học thường cười chế nhạo sự mặc khải; và cố nhiên, khoa học đã dạy chúng ta nhìn vào bằng chứng bằng thứ ánh sáng rằng toàn bộ học thuyết thần học về “thực chứng” dường như quá yếu ớt. Tuy nhiên, tôi không nghĩ có thể bài bác, về phương diện triết lý, khả năng có thực của một sự mặc khải. Nhưng tôi vẫn cầu xin, với tư cách là một nhà luận lý học, được tuyên bố rằng chân lý mặc khải –nghĩa là chân lý không làm lợi cho ai, nhưng sự mặc khải thì được thực hiện cho một số cá nhân nào đó – đã tạo nên loại chân lý khó tin nhất hiện có. Ở đây, không có tính phổ quát, bởi vì tự thân sự mặc khải đã có tính chất huyền nhiệm và hiếm xảy ra. Cũng không có vấn đề về tính chính xác kiểu toán học, bởi vì không có sự mặc khải nào lại kỳ vọng vào đặc tính ấy. Nhưng nó vẫn cứ giả vờ là chắc chắn; và có ba điều phản đối rất thuyết phục dùng để chống lại điều này. Trước hết, chúng ta không bao giờ có thể hoàn toàn chắc chắn rằng mọi sự cứu rỗi định sẵn đều thực sự được tạo ra, bởi vì điều đó chỉ có thể được thiết lập bằng lập luận. Thậm chí, chúng ta cũng không thể chứng minh nó bằng mức độ có thể xảy ra. Thứ hai, ngay cả như nó, sự cứu rỗi, được tạo ra, chúng ta cũng không thể đoan chắc, hoặc hầu như đoan chắc, lời tuyên bố đó là đúng. Chúng ta biết rằng một trong những điều răn nằm trong một trong những cuốn thánh kinh được in mà lại không có từ không trong đó. Tất cả các vấn đề được tạo ra này đều phụ thuộc vào sự bóp méo và xuyên tạc của con người. Hơn nữa, chúng ta cũng không thể hiểu thấu các ý định của đấng Tối cao, hoặc tuyên bố bất cứ điều gì như là một nguyên tắc mà có thể chi phối cách hành xử của ngài. Chúng ta không biết các mục dích huyền bí của ngài, cũng như không hiểu được những dự tính của ngài. Chúng ta không biết gì cả, ngoài việc biết rằng có thể ngài đã quyết định mang những lầm lẫn đến cho tôi tớ của ngài. Thứ ba, sự thật mà dựa trên quyền năng linh hứng (authority of inspiration) chỉ là một cái gì đó bất khả tri nhận; và chúng ta không bao giờ có thể đoan chắc rằng mình có thể hiểu nó một cách đúng đắn. Khi không còn cách nào lẫn tránh những điều khó khăn này, tôi xin nói rằng sự mặc khải, điều khó làm cho chúng ta có thể tin chắc, đã đưa đến những kết quả ít chắc chắn hơn bất cứ nguồn thông tin nào khác. Ngay cả khi sự mặc khải trở nên giản dị hơn rất nhiều, thì mọi chuyện vẫn cứ như thế.

Nhưng người ta sẽ nói rằng bạn đã quên các quy luật được biết đến như là những định đề tiên nghiệm, những tiên đề hình học, những quy tắc luận lý, những quy luật nhân quả, và nhiều thứ tương tự khác. Tất cả chúng đều tuyệt đối đáng tin và chính xác, mà không hề có ngoại lệ. Đối với vấn đề này, tôi xin trả lời rằng, về phần tôi, dường như có một bằng chứng lịch sử xác đáng nhất cho thấy rằng chân lý hiển nhiên thường có tính chất không đáng tin và dễ gây nhầm lẫn, hơn thế nữa, không phải không có ngoại lệ. Bằng chứng lịch sử này, cố nhiên, không thể không sai lầm, nhưng rất vững chắc. Do đó, tôi hỏi bằng cách nào bạn biết rằng một chân lý tiên nghiệm là chắc chắn, không có ngoại lệ và hoàn toàn chính xác? Bạn không thể biết được điều đó thông qua sự lập luận. Bởi vì làm như vậy sẽ bị lệ thuộc vào tính khả biến và sự thiếu chính xác. Vậy thì, điều này chung quy lại chỉ là bạn biết nó như là một định đề tiên nghiệm; nói cách khác, bạn đưa ra những phán đoán có tính tiên nghiệm bằng chính giá trị của chúng, mà không cần phải có sự phê bình hay những cứ liệu. Đây là hành vi khép lại cánh cổng truy tầm tri thức.

À, nhưng người ta sẽ nói bạn đã bỏ quên kinh nghiệm trực tiếp. Kinh nghiệm trực tiếp không có tính chắc chắn và cũng không phải là không đáng tin, bởi vì nó không khẳng định điều gì cả — nó chỉ là nó, thế thôi. Có những ảo giác và mộng mị ở đây. Nhưng không có gì sai trái trong việc cho rằng những điều như thế thực sự đã xuất hiện, và kinh nghiệm trực tiếp đơn giản chỉ là một sự xuất hiện. Nó không liên quan gì đến lỗi lầm, bởi vì nó không chứng thực điều gì cả, ngoại trừ sự xuất hiện của chính nó. Cũng với lý do này, nó không mang đến tính chắc chắn. Nó cũng không chính xác, bởi vì nó vẫn còn quá mơ hồ; mặc dầu nó cũng không phải là không chính xác; nghĩa là, nó không là sự chính xác có tính cách giả tạo.

Tất cả những điều này đều đúng với kinh nghiệm trực tiếp tại lần lộ diện đầu tiên của nó. Nhưng khi nó đi đến giai đoạn bị phê xét, thì nó đã trôi qua, đồng thời được trình bày lại bằng ký ức. Đến lúc này, sự lừa gạt và tính thiếu chính xác của ký ức là những điều mà ai cũng biết.

… Khi đó, nói một cách tổng quát, không có cách nào để chúng ta có thể đạt tới sự tin cậy cũng như tính chính xác. Chúng ta hoàn toàn không bao giờ đoan chắc được bất cứ điều gì, cũng như không thể nào bảo đảm được giá trị đích xác của bất cứ tiêu chuẩn đánh giá hoặc tỉ lệ lượng định chung nào.

Đây là kết luận của tôi sau nhiều năm nghiên cứu tính hợp lý của khoa học; và đây cũng chính là kết luận mà nhiều người khác, những người có khả năng hiểu biết khác nhau, đã đi đến. Tôi tin mình được phép nói rằng không một quan điểm có thể đứng vững được liên quan đến sự hiểu biết của con người mà lại không dẫn đến hệ luận này. Cố nhiên, đây cũng chẳng phải là điều mới mẻ gì, và nhiều đầu óc phi thường nhất của mọi thời đại đã ủng hộ tính xác đáng của nó.

Quả thực, hầu hết mọi người đều thừa nhận nó cho đến khi anh ta bắt đầu nhận ra những phiền phức liên quan đến sự thừa nhận này—và thế là hầu hết những người ấy lại thối lui. Nó sẽ không được thừa nhận bởi những kẻ hoàn toàn không có năng lực suy tư. Nó cũng sẽ không được thừa nhận một cách trọn vẹn bởi những đầu óc kiêu ngạo chỉ được phát triển theo chiều hướng hành động và đã quen với việc quả quyết rằng mình không hề sai lầm trong nhiều vấn đề khác nhau. Những người này sẽ thừa nhận tính có thể sai lầm của mọi quan điểm một cách dễ dàng, nhưng với điều kiện phải có ngoại lệ cho riêng họ. Thuyết có thể sai lầm, ngoài ra, cũng sẽ bị phủ nhận bởi những kẻ e ngại các hệ quả của nó tác động đến khoa học, tôn giáo và luân lý. Nhưng tôi xin phép được nói với quý vị có đầu óc bảo thủ cao độ này rằng dẫu họ có thẩm quyền và có khả năng đến đâu đi chăng nữa trong việc điều hành các vấn đề của một giáo hội hoặc của công ty, họ cũng đừng nên điều hành khoa học theo lối ấy. Chủ nghĩa bảo thủ — trong ý nghĩa một chủ thuyết khiếp sợ hệ quả — hoàn toàn không thích hợp với khoa học, một lãnh vực, trái lại, luôn luôn tiến về phía trước nhờ những người cấp tiến và thuyết cấp tiến, trong ý nghĩa một chủ thuyết sẵn sàng đẩy các hệ quả vượt khỏi mọi giới hại thông thường. Tuy nhiên, không phải cái thuyết cấp tiến cả tin, mà là thuyết cấp tiến dám thực hiện các cuộc thử nghiệm. Không còn nghi ngờ gì nữa, thuyết có thể sai lầm sẽ tìm được người ủng hộ nơi những con người được tinh thần khoa học gieo vào một sinh lực tươi tắn.

Tuy nhiên, ngay cả một người như thế vẫn có thể hỏi phải chăng tôi muốn nói rằng sẽ không hoàn toàn chắc chắn về việc hai nhân hai là bốn – và thậm chí điều này có thể là không hoàn toàn chính xác. Đây là một sự hiểu lầm về thuyết có thể sai lầm khi cho rằng thuyết đó muốn nói hai nhân hai không thể có kết quả chính xác là bốn. Như tôi đã lưu ý, mục đích của tôi không phải là nghi ngờ việc người ta có thể đếm một cách chính xác. Thuyết có thể sai lầm cũng không nói rằng con người không thể có được một sự hiểu biết chắc chắn về những điều sáng tạo được chính đầu óc của họ hình thành. Nó không khẳng định, cũng như không phủ định, điều đó. Nó chỉ phát biểu rằng người ta không thể đạt được sự chắc chắn tuyệt đối về các vấn đề của sự kiện thực tế. Các con số chỉ là hệ thống các danh xưng do con người nghĩ ra để dùng vào mục đích đo đếm. Nói rằng có hai người trong một căn phòng nào đó; đây là một sự kiện thực tế. Nói rằng mỗi người có hai con mắt; đây là một sự kiện thực tế. Nói rằng có bốn con mắt trong căn phòng; đây cũng là một sự kiện thực tế. Nhưng nói rằng nếu có hai người và mỗi người có hai con mắt, thì sẽ có bốn con mắt, thì không là một câu nói về một sự kiện thực tế, mà là một câu nói về hệ thống các con số do chính chúng ta tạo ra.

_____________

[1] Một nhân vật quê mùa, mộc mạc trong truyện thơ Peter Bell, a Tale của William Wordsworth.

[2] Solomon August Andrée (1854 – 1897): nhà thám hiểm địa cực bằng khinh khí cầu người Thụy-điển.

17. phần II – Sự tác động của tư tưởng khoa học – Quan điểm

Khoa học hiện đại đã có những tác động to lớn đến đời sống và suy nghĩ. Không hề cường điệu khi nói rằng đây là đặc điểm đáng chú ý nhất trong một trăm năm vừa qua — kể từ năm ấn hành tác phẩm Origin of Species của Darwin, năm 1859, một sự kiện đã trở thành bước ngoặc của nhân loại. Trong suốt thời gian này, khoa học và kỹ thuật hiện đại đã cách mạng hóa cái thế giới mà chúng ta đang sống. Ngày nay, chúng ta chúng ta chấp nhận là bình thường đối với những biến cố mà có lẽ đã được coi là kỳ diệu bởi bất cứ một người ôn hòa nào từng sống trước đó một trăm năm; chúng ta cho là hiển nhiên đối với nhiều sự đổi thay mà không hề ý thức được ý nghĩa của chúng. Xã hội của chúng ta là một xã hội đô thị và kỹ nghệ, một xã hội của các thành phố lớn – có hàng tá thành phố trên thế giới với dân số lên đến ba hoặc bốn triệu người (một trăm năm mươi năm trước, thành phố New York chỉ có sáu chục ngàn dân). Sự sản xuất xe hơi hàng loạt, việc mà đòi hỏi các hệ thống xa lộ và siêu xa lộ được mở rộng không ngừng, đã biến chúng ta thành một xã hội di động; đồng thời, nó cũng gây ra tình trạng phiền toái triền miên trong việc tìm chỗ đậu xe. Lối sống của chúng ta không ngừng bị biến đổi do sự xuất hiện của phản lực cơ, năng lượng hạt nhân, bom khinh khí, và vệ tinh địa tĩnh – chuyện du hành ngoài không gian giờ đây đã không còn bị coi như là chuyện “khoa học viễn tưởng” nữa, đó là chưa kể đến những điều quen thuộc như truyền thanh và truyền hình, những thứ cung cấp cho chúng ta câu chuyện trọn vẹn của các biến cố ở khắp mọi nơi trên thế giới hầu như ngay khi chúng diễn ra.

Khoa học và nhân văn

Những đổi thay về vật chất này cũng có ý nghĩa như những đổi thay về phương diện tri thức, tôn giáo, luân lý và xã hội đi kèm theo đó; cái sau có sức lan tỏa mãnh liệt hơn cái trước, nhưng lại ít được nhận thấy hơn. Ngày nay, chúng ta thường nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa khoa học và nhân văn. Đứng vào vị trí của nhà nhân văn, chúng ta thường than phiền rằng trong thời chiến hoặc trong các cuộc khủng hoảng quốc gia, người ta đã chi nhiều tiền bạc và bỏ nhiều thời gian cho khoa học hơn là cho các lãnh vực nhân văn – trong khi rõ ràng là, ít nhất đối với chúng ta, làm điều ngược lại mới hợp lý. Tuy nhiên, mối tương quan thiết yếu giữa khoa học và nhân văn chắc chắn cũng mang nhiều ý nghĩa như sự khác biệt giữa chúng với nhau. Trong suốt một trăm năm qua, mọi lãnh vực nhân văn đều chịu sự tác động của các thành tựu và quan điểm khoa học — sự tác động ấy lớn cho đến nỗi ngành nhân văn mong muốn đối phó trực tiếp và triệt để với sự ảnh hưởng của khoa học đối với nó.

Cuộc sống ở thành thị, chẳng hạn, không còn là cuộc sống mà trong đó niềm tin luân lý truyền thống và niềm tin tôn giáo có thể phát triển. Trong xã hội kỹ nghệ và thành thị mà khoa học hiện đại đã tạo ra, nhiều vấn đề luân lý mới lạ và phức tạp đã nảy sinh. “Quan điểm khoa học”, tương tự như vậy, cũng có uy tín lớn hơn rất nhiều so với quan điểm của nhà thờ trong hầu hết các trường hợp. Khoa học gia thường có tiếng nói đầy uy thế trong tất cả các đề tài, đơn giản là bởi vì uy thế ấy xuất phát từ các thành quả khoa học của ông ta. Và cùng với sự ưu tư ngày càng lớn mạnh đối với sự phát triển to lớn mà các khoa học gia đã mang đến ở nước Nga, chúng ta hiện đang chứng kiến tầm quan trọng mới của khoa học đối với đất nước này, cái mà đem lại cho nó một uy tín lớn lao cho nó hơn bao giờ hết. Quả thực, cho đến gần đây, sự “thiếu khoa học” trong phương pháp tiếp cận bất cứ vấn đề quan trọng nào cũng đủ để tạo ra những mối hoài nghi, nếu không nói là không được thời đại khai sáng của chúng ta chấp thuận. Để thỏa mãn sự đòi hỏi này của tâm thức hiện đại, chúng ta đã có nhiều nỗ lực có sức thuyết phục trong nhiều thập kỷ vừa qua nhằm phát triển không chỉ một triết lý thuần khoa học, mà còn một nền luân lý khoa học, và thậm chí cả một “tôn giáo khoa học”, nếu như ý niệm này không là một sự mâu thuẫn về phương diện thuật ngữ.

Quan điểm khoa học

Trong ý nghĩa nào đó, chúng ta tin rằng hoàn toàn có thể coi “quan điểm khoa học” như là một quan điểm về đời sống con người và vũ trụ có nhiều nét dị biệt với các quan điểm đương thời khác. Ở đây, chúng ta không bận tâm nhiều đến việc minh định quan điểm về con người và thế giới này một cách chính xác theo kiểu “khoa học”, mà sẽ chú trọng đến việc làm sáng tỏ ý nghĩa của nó một cách đầy đủ và cụ thể, như nó được diễn tả bởi những người trình bày có năng lực nhất trong nhiều lãnh vực mà chúng ta trực tiếp quan tâm đến.

Các tư tưởng gia lỗi lạc đương thời như Bertrand Russell và Alfred North Whitehead đã không ngừng viết về sự tác động của khoa học hiện đại đối với triết học và tôn giáo. John Dewey, một triết gia Mỹ quốc có ảnh hưởng nhiều nhất của thế hệ chúng ta, quan tâm nhiều đến sự chi phối của phương pháp khoa học đối với triết học. Dewey, Russell và Max Otto đều đã vạch rõ những đổi thay có ý nghĩa trong luân lý được sản sinh bởi sự tác động của khoa học. Charles Sanders Pierce hiện đang được nhìn nhận như là một trong những triết gia hàng đầu của Mỹ có khả năng hiểu được quan điểm khoa học và nhìn thấy rõ ràng các hàm ý của nó. Trong thuyết thực chứng luận lý (logical positivism), chúng ta có thể nhận thấy một nỗ lực nhằm đồng nhất triết học với phân tích khoa học. Các ký giả có năng lực và sâu sắc như Walter Lippmann và Lincoln Barnett hiện đang thảo luận về cách thức mà trong đó sự tác động của khoa học đã chi phối triết lý, tôn giáo và luân lý của người bình dân. Đồng thời, Albert Einstein trình bày cho chúng ta ví dụ quan trọng nhất của tinh thần khoa học và thành tựu khoa học.

Trong suy nghĩ của những vị này, quan điểm khoa học trở nên có ý nghĩa và dễ dàng phân biệt. Chúng ta nhận ra các nguyên lý chính yếu mà những người chấp nhận quan điểm này có thể ưng thuận, cũng như là loại dị biệt mà một người có thể trông mong tìm thấy trong các cách nhìn của họ. Tương tự, những hàm ý của tư tưởng khoa học đối với các lãnh vực đời sống và tư tưởng khiến chúng ta băn khoăn — đối với luân lý và các định chế xã hội, đối với đức tin tôn giáo và giáo hội – đã trở nên rõ ràng.

Khoa học và Nghệ thuật

Trong các lãnh vực như văn chương, hội họa, âm nhạc và kiến trúc, sự tác động của khoa học không phải là quá lộ liễu, đồng thời cũng không dễ đối phó. Nhưng trong những lãnh vực này, sự ảnh hưởng của tư tưởng và thành tựu khoa học đã trở nên rộng khắp và không thể tránh được. Sau khi xem xét về quan điểm khoa học, chúng ta chuyển sang, một cách trực tiếp hơn, luận bàn về nghệ thuật khi mà chúng đã bị biến đổi và được định hình thông qua sự tác động của khoa học trong một trăm năm vừa qua. Ưu tư hàng đầu của chúng ta trong cuộc bàn luận này là mang đến một sự hiểu biết thấu đáo hơn về hội họa, văn chương, kiến trúc và âm nhạc đương thời. Nhưng chúng ta tin rằng cái nhìn sâu sắc như thế vẫn được một sinh viên trung bình tiếp nhận một cách mỹ mãn, không phải bằng sự nghiên cứu nghệ thuật tách biệt với phần còn lại của đời sống và tư tưởng – có nghĩa là, không phải bằng việc xem xét riêng biệt các nguyên lý và phương pháp thẩm mỹ — mà thông qua sự tìm hiểu các nguyên lý và phương pháp này khi chúng bị biến đổi bởi các tác động to lớn hơn đối với đời sống và người nghệ sĩ trong lúc sáng tạo.

Như vừa nói, trong số các tác động như thế suốt một thế kỷ vừa qua, không một tác động nào tỏ ra mạnh mẽ hơn tác động của khoa học. Do đó, chúng ta không hề ngạc nhiên khi thấy rằng công việc của những kiến trúc sư vĩ đại của thời đại chúng ta như Le Corbusier hay Walter Gropius đều bị chi phối bởi các thành quả của người kỹ sư và tầm nhìn của nhà toán học. Cũng không khó để chỉ ra rằng các thành quả có tính cách mạng ấy đối với ngành hội họa trong một, hai thế hệ vừa qua đã phản ánh sự ảnh hưởng của tư tưởng khoa học một cách rõ ràng như việc chúng đã phản ánh tài năng của các họa sĩ lớn liên quan trực tiếp đến chúng. Điều này cũng đúng, chẳng hạn như, với công việc của các họa sĩ theo trường phái ấn tượng của Pháp (như Monet và Pissaro) và Cézanne, người tiên phong của hội họa đương đại, và cũng đúng đối với Picasso, một họa sĩ mà trường phái lập thể của ông đã gây nhiễu loạn cho tính tự mãn truyền thống trong nghệ thuật hồi đầu thế kỷ này.

Trong văn chương và âm nhạc, sự ảnh hưởng của tư tưởng khoa học ít rõ ràng hơn, nhưng không phải là không có. Như một phê bình gia sâu sắc đã nhận định, “chủ nghĩa tự nhiên đang cố, một cách khá vụng về, áp dụng các phương pháp khoa học vào văn chương, và vào lãnh vực đặc biệt của nó, tiểu thuyết.” Trong văn chương, điều này đã dẫn đến việc quan sát hành vi con người bằng một thái độ bình thản và khách quan, và ghi nhận nó một cách trong sáng và chân thật. Nhà văn theo trường phái tự nhiên đứng ở một vị trí tách biệc và vô can, nóng lòng mô tả sự thật, dẫu cho sự thật ấy có thể là điều không dễ chịu, như tâm trạng của một khoa học gia trong phòng thí nghiệm của mình. Dù thái độ này hầu như không biểu lộ một tinh thần “nhân văn”, nhưng các nhà văn lớn người Pháp thế kỷ mười chín như Emile Zola và Guy de Maupassant, cũng như người Mỹ như Stephen Crane, Theodore Dreiser, và Ernest Hemingway của thế kỷ hai mươi đã cho thấy tầm ảnh hưởng quan trọng của một chủ nghĩa tự nhiên như thế đối với văn chương đương đại. Và dẫu thị hiếu văn chương của chúng ta ngày nay đã được nâng lên một tầm mức nào đó, thì sự tác động của các thành quả gần đây trong lãnh vực khoa học đối với cách nhìn của chúng ta về con người và đời sống nhân loại rõ ràng là vẫn được phản ánh trong các truyện ngắn xuất sắc như truyện ngắn của Stephen Vincent Benét, một tác phẩm được trình bày trong tập sách này.

Trong âm nhạc, trường phái tân cổ điển có thể được nhìn nhận như là một sự phát triển của một thể loại có thể so sánh được trong chừng mực nào đó. Chúng tôi đưa vào đây một số bài viết chọn lọc liên quan đến âm nhạc của các nhà soạn nhạc gần đây như Stravinsky, Prokofieff, Hindemith và Bartók, trong đó, các đặc điểm quan trọng của trường phái tân cổ điển sẽ được luận bàn và ý nghĩa tổng quát của nó sẽ được phân tích.

___________

16d. John Dos Passos – Kiến trúc sư

Vào một ngày oi bức cuối xuân năm 1887, một người thanh niên mười tám tuổi cao lớn, mắt sáng có khuôn mặt kiêu ngạo và điển trai đã đến Chicago với bảy Mỹ kim trong túi sau khi mua vé tàu đi từ Madison. Số tiền ấy có được là nhờ vào việc đem cầm cuốn Lives của Plutarch, cuốn Decline and Fall of the Roman của Gibbon và chiếc áo choàng cũ kỷ có cổ bằng lông thú.

Trước khi xa nhà để lập nghiệp trong một văn phòng kiến trúc sư (không có khóa học kiến trúc nào ở Winconsin làm rối tung đầu óc chàng bằng các họa tiết cổ điển nhàm chán), anh đã từng chứng kiến mái vòm của tòa nhà State Capitol mới xây ở Madison bị đổ sập vì đá kém phẩm chất của các cây cột; các nhà thầu gian dối đã cắt xén vật liệu để trả tiền “hoa hồng” cho các chính trị gia, và có lẽ có một sự tắc trách chết người nào đó trong bản thiết kế của kiến trúc sư;

Anh không bao giờ quên được tiếng đá rơi, tiếng vôi vữa bật tung, những đám bụi bay mịt mù, và những xác chết nát ngướu, khuôn mặt xám xịt vì bụi vữa.

Khi đi dạo phố ở Chicago, băng qua băng lại những chiếc cầu bắc ngang dòng sông Chicago giữa tiếng leng keng, lóc cóc của xe cộ, tiếng ầm ầm của xe tải và xe thồ hàng, tiếng chân của những con ngựa thồ, tiếng còi của tàu kéo xà lang và của tàu hơi nước đang chờ cầu kéo, anh nghĩ về lục địa to lớn trải dài hàng ngàn dặm từ tây xuống nam và ngược lên bắc này; và khắp mọi nơi, tại những bờ biển của các hải cảng vừa mới được nạo vét, dọc theo các dòng sông, ở những khu vực giao nhau của hệ thống đường ray xe lữa, đã mọc lên như nấm những căn lều tạm, nhà chứa đầu máy xe lữa, hầm mỏ, máy hút lúa, cửa hàng, nhà kho, căn hộ, biệt thự trên bãi cỏ rợp bóng cây dành cho người giàu có, tòa nhà nghị viện có mái vòm trên đồi cao, khách sạn, nhà thờ, nhà hát, phòng hòa nhạc.

Anh sải bước một cách háo hức về phía tương lai, một tương lai đang rộng mở cho những chàng trai biết gìn giữ đôi tay cho công việc và khối óc cho sự sáng tạo.

Và ngày hôm đó, anh kiếm được việc làm trong văn phòng của một vị kiến trúc sư.

Frank Lloyd Wright là cháu của người làm mũ và một vị mục sư xứ Wales đến định cư tại thung lũng Wiscosin giàu có, thung lũng Spring, và phải chăm lo cho một đại gia đình mà các thành viên là nông gia, mục sư và thầy giáo. Cha của Wright cũng là mục sư, một người New England kém thích nghi, từng học y khoa, từng giảng đạo trong một nhà thờ ở Weymouth, Massachusetts, rồi dạy âm nhạc. đọc tiếng Phạn và cuối cùng bỏ gia đình.

Wright chào đời trong nông trại của của tổ phụ, đi học ở Weymouth và Madison, vào mùa hè thì làm việc đồng áng tại nông trang của người chú ở Wisconsin.

Nghề kiến trúc mà ông có được là nhờ vào việc đọc sách của Viollet de Luc, bậc thầy về kiến trúc thế kỷ mười ba, về toán học xây dựng trong công trình đá Gothic, và nhờ vào bảy năm làm việc với Louis Sullivan trong văn phòng của Adler và Sullivan ở Chicago. (Chính Louis Sullivan là người, sau Richardson, sáng tạo ra tất cả những gì đã được sáng tạo trong lãnh vực kiến trúc thế kỷ mười chín tại nước Mỹ).

Trước khi Frank Lloyd Wright không còn làm việc với Sullivan, ông đã đưa ra một phong cách kiến trúc rất đặc biệt, phong cách kiến trúc thảo nguyên[1]. Tại Oak Park, ông xây một khu nhà ở ngoại ô dành cho người giàu, và công trình này được xem là những tòa nhà đầu tiên đã phá vỡ tầm ảnh hưởng của những lề thói kiến trúc tồn tại nhiều thế kỷ trong tâm trí của các nhà xây dựng Mỹ, đồng thời làm suy yếu sự chi phối của những chiếc cột, những đầu hồi chạm trổ trên các dãy cột hàng thế kỷ theo kiểu thành lũy Athen, và các khuôn mẫu truyền thống chán ngắt của các công trình La-mã, và các phương cách cũ rít chịu ảnh hưởng của kiến trúc sư Andrea Palladis.

Frank Lloyd Wright đang mở một con đường mới, con đường dẫn đến lối xây dựng nhanh gọn bằng vật liệu gạch, kính và thép.

Đó là những hình ảnh ban đầu của kiến trúc ngày nay.

Ông hài lòng khi sử dụng các vật liệu mới, dùng thép để chịu lực, dùng kính, dùng bê-tông, dùng nhiều kim loại và hợp kim mới.

Là con trai và cháu trai của hai nhà thuyết giáo, ông đã trở thành nhà thuyết giáo trong lãnh vực thiết kế, đã phóng hiện diện mạo xây dựng cho tương lai nước Mỹ, chứ không phải là quá khứ Âu châu.

Là người sáng tạo ra các phác đồ kiến trúc, là người bày ra hệ thống xà, dầm, ông đã thuyết giảng cho thanh niên đến tuổi trưởng thành trong thời đại áp bức, bị giam nhốt trong bốn vách ngăn của vấn đề tài chánh nhàm chán, rằng cuộc đời và các dự tính của họ đã bị làm cho suy kiệt bởi các khoản thuế khóa phong kiến của những kẻ ăn bám đang đứng dạng chân tại mọi lối đi nhằm tống tiền sự tiến bộ:

Những công dân có dáng bộ hết sức thành thị đã trở thành kẻ mối lái khi buôn bán các nhược điểm của con người, hoặc các ý tưởng và phát minh của người khác; đã trở thành người kéo cần số, người bấm nút, những kẻ chỉ có khả năng làm việc theo sự chỉ dẫn của người khác, những kẻ chỉ có thể làm việc nhờ vào máy móc,… và bên cạnh anh ta, bên dưới anh ta, thậm chí ngay bên trong trái tim mỗi khi anh ta ngủ, đều hiện diện chiếc đồng hồ tính tiền của xe taxi để thúc giục sự tranh đấu không ngừng của người khách hàng đầy âu lo nhằm ủng hộ hoặc chống lại, nhiều hay ít, nhân ái hay lạnh lùng, số tiền ngày càng gia tăng.

Đối với những thanh niên đang ngày đêm thảo những bản phác đồ kiến trúc cho những căn hộ cho thuê nằm úp trên mặt bằng lát đá, ông thuyết giảng về những đường chân trời của tuổi thơ ông, về một tương lai không phải là sự tăng một vài điểm trong một trăm cổ phiếu được chọn, hoặc sự gia tăng tải trọng của toa xe, hoặc của số tiền trong nhà băng, hoặc của mức độ tiền ký thác hoạt kỳ, mà là một ngành xây dựng trong sạch và mới mẻ từ dưới lên trên, dựa trên nhu cầu và công dụng đối với tương lai của nước Mỹ, thay vì nhắm tới dĩ vãng mờ tối của Âu châu và Á châu. Ông dùng từ Usonia để gọi dãi đất mênh mông của quốc gia mới của ông, một quốc gia chạy dài trên lục địa khổng lồ nằm giữa Đại tây dương và Thái bình dương. Ông thuyết giảng về dự án Usonia:

Dễ dàng nhận thấy sự phức tạp của việc xây dựng vị lợi thô thiển trong thời kỳ cơ khí phôi thai của tiến trình phát triển của chúng ta, tương tự như hệ thống giàn giáo thô thiển được dựng lên cho những tòa nhà tôn quý, đã xâm hại đến cảnh quan như thế nào…Cái mục đích thô thiển của thời kỳ tiên phong đã kết thúc. Đã có thể tháo dở giàn giáo, và công việc thực sự, tính văn hóa của một nền văn minh, phải được lộ diện.

Giống như cuộc đời của nhiều nhà thuyết giáo, nhà tiên tri và những người hô hào cho cái mới, cuộc đời của Frank Lloyd Wright cũng đầy sóng gió. Ông phải dưỡng dục con cái, cãi cọ với các bà vợ, vượt qua nhiều giới hạn, gặp rắc rối với luật pháp, ra tòa ly dị, phá sản; báo chí giật gân bám theo chân ông; những điều bất hạnh mà ông gánh chịu luôn luôn ầm ĩ qua các dòng tít trên các tờ báo buổi chiều: lăng nhăng với phụ nữ, vụ hỏa hoạn kinh hoàng xảy ra cho nhà của ông ở Wisconsin.

Trước sự mỉa mai kỳ lạ đó, tòa nhà Imperial Hotel ở Tokyo do ông thiết kế là một trong vài tòa nhà không bị hư hại sau vụ động đất năm 1923 (ông viết rằng ngày mà bức điện tín báo với ông rằng tòa nhà đó đã đứng vững và nhờ vậy đã cứu sống hàng trăm nhân mạng là ngày hạnh phúc nhất của ông.)

Và người Đức viết rằng hầu hết người Mỹ đều biết đến tác phẩm của ông.

Nhiều dự án kiêu kỳ của ông vẫn chưa thực hiện được. (Bao lâu một lần thì người thuyết giáo nghe được giọng nói của mình vọng lại từ sảnh đường trống không? Bao lâu một lần người vẽ bản thiết kế canh chừng những vệt bụi trên các bản vẽ đã được thực hiện cẩn trọng? Bao lâu một lần người kiến trúc sư nhìn thấy bản vẽ cuộn tròn sẽ ngã vàng và dòn vỡ trong tủ đựng hồ sơ?)

Ông đã hai lần xây lại ngôi nhà, nơi ông làm việc, ở thung lũng của tổ phụ tại Wiscosin, sau những cuộc hỏa hoạn và tai ương mà lẽ ra đã giết chết hầu hết những người trong đó.

Ông làm việc tại Wiscosin; một người đàn ông cao gầy tóc trắng, các con đều là kiến trúc sư, những người học việc từ khắp thế giới đến làm việc với ông để phác thảo một thành phố mới (ông gọi thành phố này là Broadacre City).

(Để mường tượng ra thành phố mới này, bạn phải xóa nhòa mọi thói quen của quá khứ, và xây dựng một quốc gia từ nền móng bằng các dụng cụ mới). Đối với kiến trúc sư, chỉ có một số công dụng sau đây:

sự gia tăng khó tin về công năng, sức bền và sức chịu lực của kim loại,

máy phát điện, cuộn dây, radio, tế bào quang điện, động cơ đốt trong,

kính,

bê tông;

và các nhu cầu. (Hãy nói cho chúng tôi, hỡi các vị tiến sĩ, cái gì là nhu cầu của con người. Ít nhất, người ta không cần bị cầm tù, bị sợ hãi, bị đói, bị lạnh, bị thiếu tình yêu)

Xây dựng một tòa nhà là xây dựng cuộc sống của người làm việc và người cư ngụ trong tòa nhà đó.

Các tòa nhà này sẽ thiết lập nền văn minh giống như là những ô tổ ong, những bổn phận của con ong.

Mặc dầu là một nhà thiết kế kiêu mạn, một kẻ đam mê bê-tông, người nghệ sĩ phóng túng dành cho các quý bà giàu có muốn trả tiền để có những căn nhà vượt trội thông qua sự thiết kế tỉ mỉ đáng kinh ngạc này đã buộc phải tuân theo tính hợp lý của công dụng và nhu cầu, bởi sự tranh đấu trọn đời nhằm chống lại sự kéo giật của đồng tiền để thiết kế những bản vẽ cần thiết cho việc thực hiện một đời sống mới;

Chỉ khi có tự do, chúng ta mới có thể xây dựng được một thành phố Usonia. Các bản thiết kế của Wright đang bước vào đời sống. Những bản vẽ của ông, như Walt Whitman có lần thốt lên, đã khuấy động thanh niên:

Frank Lloyd Wright,

Cha đẻ của lối xây dựng mới

Đã được vinh danh

Ngoại trừ trên chính đất nước của mình.

__________

[1] tạm dịch từ prairie architecture.

16c. John Dos Passos – Xe hơi rẻ tiền

“Ông Ford, vua xe hơi,” một nhà báo chuyên viết ký sự nhân vật đã viết như thế vào năm 1900,

Ông Ford, vua xe hơi, khởi đầu bằng cách thúc ba bốn cái thật dứt khoát vào con tuấn mã của mình với chiếc cần đặt phía bên phải chỗ ngồi; nghĩa là ông kéo chiếc cần lên và xuống, như ông nói, để hòa trộn không khí với xăng và đưa điện vào trong buồng nổ… Ông Ford nhả công tắc điện, và sau đó nghe phụt, phụt, phụt… Sự “phụt” của cổ máy bắt đầu nghe lớn hơn. Cỗ máy đang bay với vận tốc khoảng tám dặm một giờ. Vết lún trên mặt đường rất sâu, nhưng chắc chắn là cỗ máy đã lướt đi một cách êm ái như mơ. Không có sự va chạm nào với những chiếc xe đang đi trên đường… Cho đến lúc này, đã gặp đường lớn, và ông vua xe hơi gạt chiếc cần xuống một chút, lái cỗ máy ra đường. Nó nhanh chóng tăng tốc. Khi cỗ máy chạy, có tiếng kêu vang vang phía sau, âm thanh mới của xe hơi.”

Trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm, kể từ khi rời nông trại của cha lúc mười sáu tuổi, để đi làm trong một xưởng cơ khí ở Detroit, Henry Ford đã mê thích máy móc. Ban đầu là những chiếc đồng hồ. Sau đó, ông thiết kế máy kéo chạy bằng hơi nước, rồi chế tạo cỗ xe không cần ngựa kéo có gắn một động cơ chế tạo lại từ chiếc máy nổ hiệu Otto mà ông đã đọc được về nó trong tạp chí The World of Science; tiếp đến, ông làm một chiếc xe gắn động cơ một xy-lanh bốn thì; xe này chỉ chạy về phía trước, không chạy lui được.

Cuối cùng, năm 1898, ông cảm thấy đã đi đủ xa để có thể mạo hiểm bỏ công việc đang làm với công ty Detroit Edison, nơi ông đã đi lên từ công nhân đốt lò ban đêm thành kỹ sư trưởng, để dành hết thời gian cho việc chế tạo động cơ chạy bằng dầu mới.

(Cuối những năm 1880, ông đã gặp Edison tại một cuộc mít-tinh của công nhân làm bóng đèn điện tại thành phố Atlantic City. Ông liền đến gặp Edison sau khi Edison đọc một bài diễn văn và hỏi ông có nghĩ rằng dầu có thể được dùng làm nhiên liệu để chạy động cơ hay không. Edison đáp được. Nếu Edison nói như vậy, có nghĩa là điều đó đúng. Edison là thần tượng của Henry Ford.)

Và khi lái chiếc xe độc mã chạy bằng máy, ông ăn mặc thật tươi vui với chiếc áo jacket nhiều nút, cổ cao, đội mũ quả dưa, đi lại trên những con đường bằng phẳng của Detroit; tiếng nổ của động cơ làm kinh sợ những chú ngựa kéo xe.

Ông tìm những người đủ đãng trí để có thể đầu tư tiền bạc vào nhà máy chế tạo xe hơi.

Ông là con trưởng của một người đàn ông di cư Ái-nhĩ-lan. Khi xảy ra cuộc Nội chiến, người đàn ông này đã cưới con gái của một trại chủ Hà-lan giàu có vùng Pennsylvania và sinh sống bằng nghề nông gần Dearborn, hạt Wayne, Michigan;

Giống như nhiều người Mỹ khác, chàng Henry bắt đầu căm ghét quần áo bị ẩm ướt triền miên vì bùn lầy trong khi làm việc đồng áng, việc chuyên chở phân bón, lau chùi đèn dầu, và sự phiền toái, vất vã và hiu quạnh của trang trại.

Ông là một thanh niên mảnh khảnh, năng nổ, người chơi trượt băng giỏi, và rất khéo tay; điều ông thích là máy móc và thường để người khác làm các công việc nặng nhọc. Mẹ ông khuyên ông không được rượu chè, cờ bạc, hút sách, nợ nần, và ông không bao giờ phạm phải những điều đó.

Khi bước vào tuổi hai mươi, cha ông tìm cách buộc ông bỏ Detroit, nơi ông đang làm thợ máy cho công ty Drydock Engine, một công ty chế tạo động cơ cho tàu hơi nước, để quay về nhà bằng cách cho ông bốn mươi mẫu đất.

Chàng thanh niên Henry liền tự xây cất một ngôi nhà hình vuông màu trắng hiện đại có hai mái giả, cưới vợ và sinh sống trong trang trại.

Nhưng ông thuê người khác làm công việc của nông trang;

Ông mua chiếc cưa tròn, thuê một động cơ để xẽ gỗ.

Ông là một chàng trai tiết kiệm, không bao giờ rượu chè, hút sách, cờ bạc hay thèm muốn vợ của những người láng giềng; nhưng ông không thể chịu được cuộc sống nơi nông trại.

Ông liền chuyển đến Detroit, và sống trong một nhà kho xây bằng gạch phía sau căn nhà mà ông cho sửa chữa qua loa nhiều năm liền trong những khi rỗi rảnh; ở đó, có chiếc xe độc mã gắn động cơ gọn nhẹ để có thể chạy trên đường xe ngựa nện bằng đất sét ở hạt Wayne, Michigan.

Đến năm 1900, ông đã có một chiếc xe hơi có thể dùng được để quảng cáo.

Khi công ty Ford Motor khai trương và việc sản xuất bắt đầu khởi động, ông đã ngoài bốn mươi tuổi.

Tốc độ là yếu tố trước nhất mà các nhà sản xuất xe hơi đầu tiên quan tâm đến. Các cuộc đua sẽ quảng cáo cho thương hiệu của chiếc xe.

Chính Henry Ford đã giữ được một số kỷ lục trên đường đua ở Grosse Point và trên đường băng ở Lake St. Clair. Trong chiếc 999 của mình, ông chạy một dặm trong khoảng thời gian ba mươi chín giây bốn phần năm.

Nhưng thói quen của ông là luôn luôn thuê mướn người khác làm các công việc nặng nhọc. Tốc độ mà ông bận tâm đến chính là tốc độ trong sản xuất; những kỷ lục mà ông muốn đạt được là những kỷ lục trong sản lượng. Ông thuê Barney Oldfield, một vận động viên chạy xe đạp nhào lộn, chạy xe đua cho ông.

Henry For có nhiều ý tưởng về những việc khác hơn là về thiết kế động cơ, bộ chế hòa khí, máy magnet phát điện; ông có nhiều ý tưởng về việc buôn bán, một công việc mà số tiền lớn sẽ nằm trong việc sản xuất hàng loạt, sự luân chuyển hàng hóa nhanh chóng, các phụ tùng được tiêu chuẩn hóa giá rẻ và dễ dàng thay thế;

Chưa đến năm 1909, sau nhiều năm tranh cãi với các cộng sự, Ford đã cho ra đời chiếc xe Model T đầu tiên.

Henry Ford đã đúng.

Thời gian đó, ông đã bán được hơn mười ngàn chiếc xe hơi giá rẻ; mười năm sau, ông bán gần một triệu chiếc trong một năm.

Trong những năm tháng này, Kế hoạch Taylor đã làm xáo trộn các nhà quản trị nhà máy và nhà sản xuất trên khắp đất nước. Năng suất là mệnh lệnh của sản xuất. Sự sáng tạo trong việc cải thiện hiệu suất của một cỗ máy cũng sẽ cải thiện hiệu suất của người công nhân sản xuất ra cổ máy đó.

Năm 1913, dây chuyền sản xuất xe hơi được thiết lập tại nhà máy của Ford. Thời gian đó, lợi nhuận đã đạt đến con số hai mươi lăm triệu Mỹ kim, nhưng các nhà sản xuất đều gặp khó khăn trong việc giữ chân nhân công. Thợ máy dường như không thích việc sản xuất dây chuyền tại nhà máy của Ford.

Henry Ford có nhiều ý tưởng về những chuyện khác hơn là về chuyện sản xuất.

Ông là nhà sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới; ông trả lương cao; có lẽ nếu các công nhân nghĩ rằng họ đang bị cắt giảm (một sự cắt giảm rất nhỏ) trong lợi tức, thì khoản cắt gảm này được dùng để khích lệ các công nhân có tay nghề trung thành với công việc của họ.

Những công nhân có lương cao có thể để dành tiền mua một chiếc xe hơi giá rẻ; ngày đầu tiên khi Ford loan báo rằng những công nhân Mỹ có gia đình hợp pháp, nếu cần việc làm, sẽ có cơ hội kiếm được năm Mỹ kim một ngày (tất nhiên, luôn luôn có những điều kiện ràng buộc kèm theo), một đám đông khổng lồ chờ đợi bên nhoài nhà máy Highland Park.

Tất cả đều trở thành con số không trong đêm tháng Giêng đó; một cuộc bạo loạn xảy ra khi cổng nhà máy mở ra; cảnh sát đánh vào đầu, người đi tìm việc ném gạch đá; tài sản, tài sản của Henry Ford, đã bị phá hủy. Thám tử của công ty buộc phải mở vòi rồng để đẩy lùi đám đông.

Phương cách Mỹ quốc[1] (The American Plan); sự thịnh vượng của ngành xe hơi đang rò rĩ từ trên xuống dưới; hóa ra luôn luôn có những điều kiện ràng buộc đối với điều đó.

Nhưng năm Mỹ kim một ngày

Đã được trả cho những công nhân Mỹ lương hảo, những người không rượu chè, hút sách, đọc sách hay suy tư, những người không phạm tội ngoại tình, những người mà vợ của họ không được nhận vào chỗ trọ, những người mà một lần nữa đã làm cho nước Mỹ trở thành dòng sông Yukon của những công nhân bị bóc lột của thế giới; những người đã sản xuất ra tất cả những chiếc xe hơi giá rẻ này, những người đã tạo nên thời đại xe hơi, và một cách ngẫu nhiên, biến Henry Ford, ông vua xe hơi, người ngưỡng mộ Edison, trở thành người Mỹ vĩ đại vào thời đại của ông.

Nhưng Henry Ford có nhiều ý tưởng về những chuyện khác, bên cạnh các dây chuyền sản xuất và thói quen sinh hoạt của công nhân. Trong ông luôn tràn đầy các ý tưởng. Thay vì đi đến thành thị để làm giàu, ông lại là một chàng trai nhà quê làm giàu bằng cách mang thành thị về nông thôn. Từ những câu châm ngôn mà ông học được từ cuốn giáo khoa McGuffey’s Reader, từ những ý kiến lẫn định kiến của mẹ ông, ông đã gìn giữ những tờ tiền sạch sẽ và thẳng thóm như mới in trong két sắt của nhà băng.

Ông muốn mọi người hiểu biết về các ý tưởng của ông, cho nên ông đã mua tờ Dearborn Independent để phát động chiến dịch chống lại tệ hút thuốc lá.

Khi chiến tranh bùng nổ ở Âu châu, ông cũng đã có nhiều ý tưởng về sự kiện này. (sự ngờ vực của người lính và ciệc đi lính là một phần của truyền thống nông thôn miền trung tây, cũng như sự chừng mực, tính tiết kiệm và thói lừa lọc trong vấn đề tiền bạc). Bất cứ thợ máy người Mỹ khôn ngoan nào cũng có thể thấy rằng nếu Âu châu không có quá nhiều người dốt nát, không được trả lương đầy đủ, những người chè chén, hút sách, phóng đãng, và lãng phí trong phương pháp sản xuất, thì có lẽ chiến tranh đã không bao giờ xảy ra.

Khi Rosika Schwimmer chọc thủng hàng rào thư ký và nhân viên phục dịch đang vây quanh Henry Ford để đề nghị ông ngăn chặn cuộc chiến, ông đáp dĩ nhiên là được, nếu thuê một chiếc tàu đem các chàng trai ra khỏi chiến hào vào đêm Giáng sinh.

Ông thuê một chiếc tàu hơi nước, Oscar II, và chở những nhà hoạt động cho hòa bình và người làm công tác xã hội đến giải thích cho các ông hoàng của Âu châu rằng những gì họ đang làm đều xấu xa và xuẩn động.

Không phải lỗi của ông mà lương tri của Richard tội nghiệp không còn cai trị thế giới và hầu hết các nhà hoạt động cho hoa bình đều là những kẻ gàn dở, hoặc ngốc nghếch qua các dòng tít.

Khi William Jennings Bryan đến Hoboken để tiễn ông, có một người đã trao cho William Jennings Bryan một con sóc bị nhốt trong chiếc lồng; William Jennings Bryan đã đọc diễn văn cùng với con sóc trên cánh tay. Henry Ford tung những đóa hồng đẹp của nước Mỹ vào đám đông. Ban nhạc chơi bài I Didn’t Raise My Boy to Be a Soldier (Tôi Không Nuôi Con Tôi Trở Thành Người Lính). Những người thích đùa thả thêm nhiều con sóc nữa. Một đôi uyên ương chạy trốn để được sống bên nhau đã được nhóm mục sư trong hội trường cử hành hôn lễ, và ông Zero, người đến bến tàu muộn, đã lao xuống dòng North để bơi theo con tàu.

Chiếc Oscar II được mô tả như là một trại Chautauqua nổi; Henry Ford nói nó giống một ngôi làng miền trung tây, nhưng cho tới lúc họ đến Christiansand ở Na-uy, các phóng viên đã chế nhạo ông khiến ông cảm thấy lo sợ và liền đi nghỉ. Bên ngoài hạt Wayne, Michigan, thế giới quả là quá điên loạn. Bà Ford và ban quản đốc gửi một vị linh mục đến để bí mật đưa ông về nhà; vậy là các nhà hoạt động cho hòa bình đành phải đọc diễn văn mà không có sự hiện diện của ông.

Hai năm sau, công ty của Ford sản xuất đạn dược và tàu chiến hiệu Eagle; Henry Ford còn dự định sản xuất thiết giáp một người lái, tàu ngầm một người lái, giống như loại đã được thử nghiệm trong cuộc chiến giành độc lập của người Mỹ (Revolutionary War). Ông loan với báo giới rằng ông sẽ chuyển giao lợi nhuận chiến tranh cho chính phủ, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy ông đã làm điều đó.

Điều mà ông mang về sau chuyến đi là bản văn Protocols of the Elders of Zion. Ông khởi động một chiến dịch khai sáng thế giới trong tờ Dearborn Independent; người Do-thái là lý do khiến thế giới không còn được như hạt Wayne, Michigan, vào những ngày mà ngựa và xe độc mã còn được dùng đến.

Người Do-thái đã phát động chiến tranh. Người Do-thái đã mang lại chủ nghĩa Bolshevic, thuyết Darwin, chủ nghĩa Marx, Nietzsche, váy ngắn và son môi. Họ đứng đằng sau Wall Street và các chủ ngân hàng quốc tế, đằng sau các vụ buôn gái, phim ảnh, Tối cao Pháp viện, nhạc ragtime và buôn lậu rượu.

Henry Ford lên án người Do-thái, đồng thời tranh cử ghế thượng nghị sĩ và kiện tờ Chicago Tribune về tội phỉ báng, và trở thành trò cưới của báo giới đô thành;

Nhưng khi các chủ ngân hàng đô thành can thiệp vào công việc kinh doanh của ông hoàn toàn đi trước họ một bước.

Năm 1918, ông vay tiền để trả cho cổ đông thiểu số một khoản tiền nhỏ là bảy mươi lăm triệu Mỹ kim.

Tháng Hai năm 1920, cần tiền mặt để trả một phần món nợ này khi chúng đáo hạn. Một chủ ngân hàng đã đến gặp và đề nghị tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ông, nếu như một đại diện của ngân hàng được trở thành thành viên của hội đồng quản trị. Henry Ford đưa nón cho vị chủ ngân hàng, và bắt đầu kiếm món tiền đó theo cách của ông:

Ông vận chuyển tất cả xe và phụ tùng mà ông có trong nhà máy đến các đại lý và đòi họ thanh toán bằng tiền mặt ngay lập tức. Giao chuyện vay mượn cho người khác luôn luôn là phương châm hàng đầu. Ông ngừng sản xuất và hủy bỏ mọi đơn đặt hàng của các nhà cung cấp. Nhiều đại lý phá sản, nhiều nhà cung cấp thất bại, nhưng khi ông mở cửa nhà máy trở lại, ông làm chủ nó hoàn toàn.

Đó là cách mà một người làm chủ nông trại bị cầm cố bằng các khoản thuế đã được thanh toán xong.

Năm 1922 bắt đầu bằng sự kiện Ford vận động cho chức vụ tổng thống (lương cao, thủy điện, kỹ nghệ đến với tỉnh lẻ), sự kiện được thúc đẩy một cách khéo léo đằng sau hậu trường bởi một triết gia thẳng thắn và trung hậu, Calvin Coolidge;

Nhưng vào năm 1922, Henry Ford đã bán ra một triệu ba trăm ba mươi hai ngàn hai trăm lẻ chín chiếc xe hơi giá rẻ; ông trở thành người giàu nhất thế giới.

Nhiều con đường đã hằn vết bánh xe của chiếc Model T. Sự phát triển vĩ đại của xe hơi đang diễn ra. Tại nhà máy của Ford, việc sản xuất luôn luôn được cải tiến; ít lãng phí hơn, nhiều đốc công, phó đốc công và “chim mồi” hơn (mười lăm phút ăn trưa, ba phút đi vệ sinh, sự tăng nhanh tốc độ sản xuất theo phương pháp quản trị Taylor hiện diện khắp mọi nơi, cúi xuống, đặt gioăng, xiết bù-loong, cài chốt định vị, rồi cúi xuống, đặt gioăng, xiết bù-loong, cài chốt định vị, rồi lại cúi xuống… cho đến khi nào mọi khoảnh khắc của đời sống đều bị hút vào việc sản xuất, và đêm đến, người công nhân đi về nhà với thân xác kiệt quệ).

Ford làm chủ mọi chi tiết của chu trình này, từ các quặng mỏ trên đồi cho đến khi chiếc xe lăn ra khỏi công đoạn cuối cùng của dây chuyền sản xuất. Các máy móc thiết bị được hợp lý hóa một cách tối ưu.

Năm 1926, chu trình sản xuất được giảm xuống còn tám mươi mốt giờ, tính từ công việc ở quặng cho đến khi hoàn tất chiếc xe, nhưng chiếc Model T vẫn lỗi thời. Sự thịnh vượng của kỷ nguyên mới và phương cách Mỹ quốc (luôn có những điều kiện buộc ràng kèm theo) đã giết chết xe hơi giá rẻ.

Nhà máy của Ford giờ đây chỉ là một trong nhiều nhà máy sản xuất xe hơi khác.

Khi bong bóng thị trường chứng khoán bị vỡ, vị triết gia thẳng thắn và trung hậu của Ford mừng rỡ nói,

“Tôi đã bảo với anh như thế.

Anh thật đáng kiếp vì cờ bạc và nợ nần. Đất nước vẫn khỏe mạnh.”

Nhưng khi đất nước mang đôi giày bị rách, mặc chiếc quần đã sờn, xiết chặt thắt lưng quanh cái bụng rỗng, khi đôi tay nhàn rỗi bị nứt nẻ vì cái lạnh của ngày giá rét nhất vào tháng Ba năm 1932, khi đất nước bắt đầu tuần hành từ Detroit đến Dearborn đòi công việc, thì tại công ty của Ford, tất cả những gì mà người ta có thể nghĩ về là súng máy.

Đất nước vẫn khỏe mạnh, nhưng người ta đã thảm sát đoàn tuần hành.

Họ đã bắn chết bốn người.

Henry Ford, khi về già, là một người rất mê đồ cổ, (sống khép kín trong trang trại của thân phụ trong khu đất rộng hàng ngàn mẫu, được bảo vệ bởi một đội quân gồm những người phục dịch, thư ký, mật vụ, điềm chỉ viên dưới sự chỉ huy của một cựu võ sĩ người Anh; luôn luôn lo sợ những bàn chân mang đôi giày rách trên đường phố, luôn luôn sợ các băng đảng sẽ bắt cóc con cháu, sợ kẻ lập dị nào đó sẽ bắn mình, sợ sự đổi thay và những đôi tay nhàn rỗi sẽ đập phá cổng kín và tường cao; trang trại ấy được bảo vệ bởi một đạo quân tư nhằm chống lại một nước Mỹ mới của những trẻ em đói kém, của những chiếc bụng rỗng, của những đôi giày rách đang đứng trong dòng người chờ nhận phần súp, cái dòng người đã nuốt chửng các vùng đất thịnh vượng cổ kính của hạt Wayne, Michigan).

Henry Ford, khi về già, là một người rất mê đồ cổ.

Ông xây dựng lại gia trang của thân phụ và khôi phục lại diện mạo ngày xưa của nó như hồi ông còn bé. Ông xây dựng một ngôi làng gồm viện bảo tàng xe độc mã, xe trượt tuyết, xe ngựa bốn bánh, lưỡi cày, bánh xe nước, xe hơi kiểu cũ. Ông tìm khắp trong hạt những người chơi đàn violon để chơi những vũ điệu kiểu cũ.

Thậm chí ông còn mua nhiều quán rượu và khôi phục tình trạng nguyên thủy của chúng; ông cũng mua cả những phòng thí nghiệm đầu tiên của Edison.

Khi mua lữ quán Wayside gần thị trấn Sudbury, Massachusetts, ông làm cho xa lộ mới, nơi mà xe hơi đời mới gầm rống và luớt qua (âm thanh mới của xe hơi),

nằm cách xa cửa ngỏ vào thị trấn,

giống như những con đường cũ kỷ trước đây,

để cho mọi thứ có thể quay trở về ngày xưa,

những ngày của ngựa và xe độc mã.

___________

[1] Thường được giới chủ nhân ở Mỹ dùng vào những năm 1920 để mô tả chính sách không thương lượng với các nghiệp đoàn của họ.