19. Lincoln Barnett – Vũ trụ và tiến sĩ Einstein

Giới thiệu:

Trong cuộc thảo luận của chúng ta về quan điểm khoa học, sẽ rất hữu ích khi đề cập đến vị khoa học gia vĩ đại nhất của thời đại chúng ta, một người mà toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của ông đã thể hiện những phẩm chất tốt đẹp cho đến nỗi Peirce đã xem đó là các yếu tố cần thiết của tinh thần khoa học. Albert Einstein sinh năm 1878 tại Ulm, Đức quốc. Sau khi đến học tại Thụy-sĩ, ông đã trở thành công dân của quốc gia này vào năm 1900, và ít năm sau đó, giữ cương vị giáo sư vật lý lý thuyết tại đại học Zurich. Năm 1905, ông cho xuất bản một loạt gồm năm chuyên khảo trinh bày về thuyết Tương đối hẹp (Special Theory of Relativity), cái mà đã ngay lập tức khiến trong ông trở nên nổi tiếng trong giới khoa học. Mười năm sau, ông đưa ra thuyết Tương đối rộng (General Theory of Relativity); thế là chỗ đứng của ông trong hàng ngũ các khoa học gia vĩ đại của mọi thời đại đã được thiết lập một cách vững chắc. Năm 1914, ông đảm nhận vị trí giáo sư vật lý tại đại học Berlin. Năm 1921, ông được trao giải Nobel vật lý; vài năm sau đó, ông trở thành giảng sư thỉnh giảng tại đại học Oxford, đồng thời cũng là giáo sư thỉnh giảng một thời gian cho Học viện Kỹ nghệ California.

Năm 1933, khi chính phủ Đức quốc xã coi ông là một người Do-thái vô dụng và treo giải cho việc lấy đầu ông, Einstein đã rời nước Đức để qua Mỹ. Ông định cư tai Princeton, New Jersey, nơi mà với tư cách là thượng khách của Institute for Advanced Study, ông đã dùng hai mươi hai năm cuối cùng của cuộc đời mình vào việc nghiên cứu và viết sách khoa học. Năm 1940, ông trở thành công dân Hoa kỳ và đã phát biểu rằng: “bất cứ khi nào tôi có quyền chọn lựa, tôi xin chọn để được sinh sống trong một đất nước mà quyền tự do chính trị, lòng khoan dung và sự bình đẳng của mọi công dân trước luật pháp là những điều hiến định.” Vào dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ bảy mươi tư của ông, một trường y khoa ở New York đã được vinh dự mang tên ông, trường Y khoa Albert Einstein. Ông qua đời năm 1955.

Cố nhiên, người bình thường không dễ dàng hiểu được các lý thuyết khoa học của Einstein. Có lần người ta cho rằng chỉ có sáu người hiểu được ông. Nhưng nhiều nỗ lực đã được thực hiện để trình bày các ý tưởng của ông một cách bình dân hơn; trong số này, loạt bài đăng trên tạp chí Harper’s của Lincoln Barnett năm 1948 được coi là thành công hơn cả. Barnett là một người có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực khó khăn này. Ông đã viết nhiều tiểu sử và các bài báo nổi tiếng về đề tài khoa học cho cả tờ Harper’s lẫn tờ Life; đồng thời từng là phó tổng biên tập của tờ Life. Trong những năm gần đây, ông đã cho đăng trên Life nhiều bài vở rất thành công, bao gồm những bài trên mục “The World’s Great Religions,” “The World We Live In,” và “The Epic of Man.”

Năm 1950, Barnett tập hợp loạt bài về Einstein của ông để in thành cuốn sách có nhan đề là The Universe and Dr. Einstein (Vũ trụ và tiến sĩ Einstein). Trích đoạn của chúng ta, dựa theo bản in lần thứ hai của tác phẩm này, chủ yếu đề cập đến quan điểm về vũ trụ mà Einstein đã ấp ủ trong thời gian trước khi qua đời. Đây rõ ràng là một sự minh họa xuất sắc cho quan điểm khoa học; và dẫu cách nhìn về vũ trụ của nhà khoa học này, như ông đã phác họa cho chúng ta, đôi lúc có gây khó khăn cho độc giả bình thường, nhưng đồng thời cũng đã khơi dậy óc tò mò và làm giàu trí tưởng tượng của anh ta.

___________

Được khắc trên các bức tường trắng của nhà thờ Riverside ở New York, hình ảnh sáu trăm nhân vật của mọi thời đại – các vị thánh, triết gia, vua chúa – đã trở nên bất tử khi quan sát không gian và thời gian bằng đôi mắt miên man, xa vắng. Một bức tường đã lưu giữ hình ảnh của các thiên tài khoa học, gồm mười bốn người, kể từ Hippocrates, người đã mất vào khoảng năm 370 trước Tây lịch, đến Albert Einstein, người vừa qua đời năm 1955. Tại nơi lưu giữ các hình ảnh điêu khắc về những nhân vật quá cố nổi tiếng này, Ainstein là người duy nhất làm rúng động thế giới trong ký ức của hầu hết những người đang còn sống.

Ngoài ra, cũng cần chú ý rằng trong hàng ngàn người đi lễ hàng tuần tại nhà thờ Tin lành tuyệt đẹp của khu Manhattan này, thì khoảng chín mươi chín phần trăm đã gặp khó khăn trong việc giải thích lý do tại sao hình ảnh của Einstein lại hiện diện nơi đây. Sở dĩ như vậy là vì cách đây một thế hệ, khi đang phác họa hình ảnh có tính cách biểu tượng cho ngôi nhà thờ, tiến sĩ Harry Emerson Fosdick đã viết thư cho một nhóm các khoa học gia hàng đầu của đất nước để mời họ đưa ra một danh sách mười bốn nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học. Sự bình chọn của họ rất khác nhau. Hầu hết đều chọn những nhân vật như Archimedes, Euclid, Galileo và Newton. Nhưng mọi danh sách đều xuất hiện cái tên Albert Einstein.

Cái khoảng cách khổng lồ tồn tại dai dẳng hơn năm mươi năm — kể từ năm 1905, khi thuyết Tương đối hẹp được ấn hành lần đầu tiên — giữa sự nổi tiếng của Einstein và sự hiểu biết của công chúng về lý thuyết ấy chính là thước đo lỗ hổng trong nền giáo dục của nước Mỹ. Ngày nay, hầu hết độc giả của các tờ báo đều biết một cách mơ hồ rằng Einstein đã làm một cái gì đó liên quan đến bom nguyên tử; ngoài điều này ra, tên của ông đơn giản chỉ là từ đồng nghĩa với sự khó hiểu. Trong khi các lý thuyết của ông đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của khoa học hiện đại, nhưng chúng vẫn chưa nằm trong chương trình giảng dạy hiện đại. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi nhiều người đã tốt nghiệp đại học vẫn nghĩ về Einstein như là một nhà siêu thực về toán học hơn là người khám phá ra các định luật không gian có tầm quan trọng to lớn đối với nỗ lực gian khó của con người trong việc tìm hiểu thế giới tự nhiên. Anh ta có thể không nhận thức được rằng thuyết Tương đối, cùng với tầm quan trọng về giác độ khoa học của nó, đã hình thành một hệ thống triết lý chính yếu, làm gia tăng ý nghĩa và soi sáng các ý tưởng của những nhà nhận thức luận vĩ đại như Locke, Berkeley và Hume. Hậu quả là, anh ta biết rất ít về cái vũ trụ bao la, huyền nhiệm và ngăn nắp một các kỳ lạ, nơi mà anh ta đang cư ngụ.

* * *

Tiến sĩ Einstein, vị giáo sư emeritus[1] của viện Institute for Advanced Study của đại học Princeton, đã dành những tháng năm cuối cùng của cuộc đời để giải quyết một vấn đề gây nhiều trở ngại cho ông hơn một phần tư thế kỷ. Đó là Thuyết về Trường thống nhất (Unified Field Theory), một lý thuyết đề ra các định luật vật lý chi phối hai lực căn bản của vũ trụ, lực hấp dẫn và lực điện từ. Ý nghĩa của công việc này chỉ được đánh giá đúng mức khi người ta nhận ra rằng phần lớn các hiện tượng tự nhiên dường như được sản sinh bởi hai lực căn bản này.

Vì mục đích của khoa học là nhằm mô tả và giải thích thế giới mà chúng ta đang sống, cho nên một lý thuyết như thế, bằng cách định rõ tính đa dạng của tự nhiên trong phạm vi một lý thuyết hài hòa, có thể sẽ đạt được một mục tiêu cao cả nhất. Nghĩa của từ “giải thích”, tuy nhiên, lại gánh chịu một sự tranh cãi trong mỗi bước đi của con người khi tìm hiểu thực tại. Khoa học không thể thực sự “giải thích” được điện trường, từ trường và trọng trường; các tác động của nó có thể được đo lường và tiên liệu, nhưng sự hiểu biết về bản chất tối hậu của nó là điều mà các khoa học gia hiện đại cũng chẳng có kiến thức nhiều hơn so với Thales của thành Miletus, người đầu tiên nghiên cứu về sự nhiễm điện của tấm hổ phách vào khoảng năm 585 trước Tây lịch. Hầu hết các nhà vật lý học đương thời đều phản đối các quan niệm cho rằng con người có thể khám phá được các lực huyền nhiệm này “thực sự” là gì. Điện trường, Bertrand Russell nói, “không phải là một vật như thánh đường Saint Paul; nó là cái cách thức mà qua đó sự vật tương tác với nhau. Khi chúng ta nói về cách thức mà sự vật tương tác khi, và trong những hoàn cảnh, chúng bị nhiễm điện, là chúng ta đã nói hết những gì cần nói.” Cho đến gần đây, có lẽ có nhiều khoa học gia đã khinh miệt một luận thuyết như thế. Aristotle, người mà các kiến thức về khoa học tự nhiên của mình đã thống ngự tư tưởng phương Tây hai ngàn năm, tin rằng con người có khả năng đạt đến sự hiểu biết về thực tại tối thượng bằng những lập luận dựa trên các nguyên lý hiển nhiên (self-evident principles). Chẳng hạn như, một nguyên lý hiển nhiên cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều có địa vị thích hợp cho riêng mình; do vậy, người ta có thể suy luận rằng vật rơi xuống đất vì đó là nơi mà nó thuộc về, và khói bay lên không trung vì đó là nơi mà khói thuộc về. Mục đích của khoa học theo kiểu Aristotle là nhằm giải thích tại sao sự vật diễn ra. Khoa học hiện đại đã được khai sinh khi Galileo bắt đầu cố gắng lý giải bằng cách nào mà sự vật diễn ra, và từ đó tạo ra phương pháp thực nghiệm đối chứng (controlled experiment) mà hiện nay vẫn là nền tảng của việc nghiên cứu khoa học.

Từ các khám phá của Galileo và, sau đó, của Newton,   đã mở đường cho sự xuất hiện của một thế giới cơ học của những lực, áp lực, ứng suất, dao động và sóng. Dường như không có một quá trình tự nhiên nào mà có thể được mô tả dưới dạng kinh nghiệm thông thường, hoặc được minh họa bằng một mô hình cụ thể, hay được tiên liệu bằng các định luật chính xác đến kinh ngạc của Newton về cơ học. Nhưng trước khi bước sang thế kỷ trước, một số bất đồng đối với các định luật này đã bắt đầu dễ được nhận thấy; và mặc dầu những bất đồng ấy là không đáng kể, nhưng chúng vẫn là những tác động có tính chất nền tảng khiến cho toàn bộ dinh thự thế giới cơ học của Newton bắt đầu gãy đổ. Sự cả quyết khoa học có thể giải thích phương cách sự vật diễn ra bắt đầu trở nên yếu ớt từ khoảng hai mươi năm trước. Và ngay bây giờ, vấn đề là liệu nhà khoa học có thể chạm đến “thực tại” không – hay chỉ có thể tiếp tục hy vọng về điều đó.

II

Các yếu tố khiến các nhà vật lý học không tin cậy vào lãnh vực cơ học đang hoạt động trôi chảy đã bắt đầu xuất hiện lờ mờ phía chân trời tri thức, kể cả bên trong lẫn bên ngoài chân trời ấy – trong phạm vi nguyên tử và bên ngoài không gian xa thẳm. Để mô tả các hiện tượng này về phương diện số lượng, hai hệ thống lý thuyết đồ sộ đã được khai triển trong giai đoạn giữa năm 1900 và năm 1927. Thuyết thứ nhất là thuyết Lượng tử, lý thuyết dùng để giải quyết các vấn đề liên quan đến đơn vị căn bản của vật chất và năng lượng. Thuyết thứ hai là thuyết Tương đối, dùng để giải quyết các vấn đề liên quan đến không gian, thời gian, và cấu trúc của vũ trụ như là một tổng thể.

Hiện nay, cả hai thuyết này đều được coi như là rường cột của tư tưởng vật lý hiện đại. Chúng mô tả các hiện tượng trong lãnh vực của riêng mình dưới dạng các mối tương quan toán học chặt chẽ. Chúng không trả lời nhiều hơn cho câu hỏi “bằng cách nào” của Newton như là các định luật Newton đã trả lời cho câu hỏi “tại sao” của Aristotle. Chẳng hạn như, chúng đưa ra các phương trình xác định một cách chính xác các quy luật chi phối sự bức xạ và lan truyền của ánh sáng. Nhưng cơ chế thực sự mà nhờ đó nguyên tử phát ra ánh sáng và ánh sáng lan truyền qua không gian vẫn còn là một trong những điều bí ẩn của tự nhiên. Tương tự như thế, các quy luật chi phối hiện tượng phóng xạ đã giúp cho các khoa học gia tiên đoán được rằng trong một lượng uranium cho trước, một số nguyên tử nào đó sẽ tan rã trong một quãng thời gian nhất định. Nhưng nguyên tử nào sẽ tan rã và bằng cách nào chúng được chọn để bị diệt vong là những vấn đề mà con người vẫn chưa có lời đáp.

Khi chấp nhận sự mô tả tự nhiên dưới dạng toán học, các nhà vật lý học đã bị thúc buộc rời bỏ thế giới kinh nghiệm bình thường, cái thế giới của sự tri nhận thông qua giác quan. Để hiểu ý nghĩa của sự thoái lui này, nhất thiết phải bước qua ranh giới mong manh phân chia vật lý học và siêu hình học. Những vấn đề liên quan đến mối tương quan giữa người quan sát và thực tại, chủ thể và khách thể, luôn luôn ám ảnh các nhà tư tưởng từ khi hiện diện lý trí. Hai mươi ba thế ký trước, triết gia Hy-lạp Democritus đã viết: “Ngọt ngào và cay đắng, giá buốt và ấm áp, cũng như mọi sắc màu, tất cả đều tồn tại trong ý nghĩ chứ không phải trong thực tại; cái thực sự tồn tại là những phần tử không biến đổi, những nguyên tử, những chuyển dịch của chúng trong không gian trống rỗng.” Galileo cũng đã nhận thức tính thuần chủ quan của các giác quan khi chúng cảm nhận màu sắc, mùi vị, âm thanh, và chỉ ra rằng “chúng ta không thể gán các cảm thức ấy cho các đối tượng ngoại giới, khi mà những nỗi buồn vui có thể xảy đến vì chúng ta đã chạm vào các đối tượng ấy.”

Triết gia Anh quốc John Locke cố gắng xâm nhập vào “bản thể đích thực của vật chất” bằng cách vạch ra đường ranh giữa cái mà ông gọi là phẩm tính chính yếu (primary qualities) và phẩm tính thứ yếu (secondary qualities) của vật chất. Từ đó, ông cho rằng hình dáng, chuyển động, trạng thái rắn và tất cả những thuộc tính hình học là những phẩm tính thực, hay phẩm tính chính yếu, cái vốn hiện hữu trong chính sự vật; trong khi các phẩm tính thứ yếu như màu sắc, âm thanh, mùi vị đơn giản chỉ là sự phóng hiện của giác quan. Tính thiếu tự nhiên của sự phân biệt đó là điều dễ dàng nhận thấy đối với các tư tưởng gia sau này.

“Tôi có thể chứng minh rằng,” nhà toàn học vĩ đại của Đức quốc, Leibnitz, nói, “không chỉ ánh sáng, màu sắc, sức nóng và những thứ tương tự, mà cả sự chuyển động, hình dáng, cũng chỉ là phẩm tính bên ngoài.” Chẳng hạn, chỉ vì thị giác mách bảo cho chúng ta rằng quả bóng đánh golf màu trắng, cho nên hình ảnh do xúc giác gây ra sẽ nói với ta quả bóng ấy hình tròn, mịn, và bé nhỏ — các phẩm tính không có thực, chúng phụ thuộc vào giác quan, hơn là vào phẩm tính mà chúng ta xác định là trắng bằng sự quy ước.

Do đó, các triết gia và khoa học gia dần dần đi đến một kết luận rất đáng chú ý rằng: vì mọi vật đơn giản chỉ là sự tập hợp các phẩm tính của riêng nó, và vì các phẩm tính chỉ tồn tại trong tâm thức, cho nên toàn bộ thế giới khách quan của vật chất và năng lượng, của nguyên tử và tinh cầu, đều không tồn tại, mà chỉ là hình ảnh của ý thức, một cấu trúc của những biểu tượng mang tính quy ước được hình thành nhờ vào giác quan của con người. Berkeley, kẻ thù không đội trời chung của chủ nghĩa duy vật, phát biểu như sau: “Cả thiên thần trên trời lẫn đồ đạc dưới mặt đất, nói một cách ngắn gọn, tất cả những vật thể tạo nên cái cấu trúc vững chãi của thế giới này, đều không phải là những thực thể nếu không có tâm thức… Chừng nào mà chúng không thực sự được tri nhận bởi con người, hoặc không tồn tại trong tâm thức,… thì chúng không thể hiện hữu; bằng không thì chúng phải hiện hữu trong tâm thức của một đấng siêu linh bất diệt nào đó.” Einstein đã đưa chuỗi lập luận này đến giới hạn cuối cùng của nó bằng cách cho thấy rằng ngay cả không gian và thời gian cũng chỉ là những hình thức của trực giác, cái không thể tách ra khỏi ý thức, tương tự như sự phụ thuộc vào nó của các ý niệm về màu sắc, hình dáng, kích thước. Không gian không có thực tại khách quan, ngoại trừ việc là một trật tự hoặc sự sắp đặt của các vật thể mà chúng ta tri nhận; đồng thời thời gian không tồn tại độc lập với trật tự của các biến cố mà nhờ chúng, chúng ta lượng định thời gian.

***

Sự nhận thức rằng toàn bộ hiểu biết của chúng ta về vũ trụ đơn giản chì là “cái còn lại” của những cảm giác bị các giác quan bất toàn che mờ đã khiến cho cuộc truy tìm thực tại càng có vẻ vô vọng. Nếu như không có gì tồn tại ngoại trừ sự nhận thức, thì thế giới này sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn những sự nhận thức cá nhân. Nhưng một mệnh lệnh kỳ lạ đã thâm nhậm vào sự nhận thức của chúng ta, như thể có một “tầng ngầm” thực tại khách quan nào đó mà các giác quan của chúng ta có thể nắm bắt được. Mặc dầu không ai biết được sự cảm nhận màu đỏ, hoặc nốt Do, của mình có giống với sự cảm nhận của người khác về chúng hay không, nhưng hoàn toàn có thể cho rằng mọi người ít nhiều đều nhìn thấy màu sắc và nghe thấy âm thanh một cách giống nhau.

Berkeley, Descartes và Spinoza đã quy cho Thượng đế là người tạo ra sự hài hòa hữu ích của thiên nhiên. Các nhà vật lý học hiện đại, những người thích giải quyết vấn đề của họ mà không cần đến sự hiện diện của Thượng đế (mặc dầu làm như vậy dường như lúc nào cũng sẽ khó khăn hơn), nhấn mạnh rằng thiên nhiên hoạt động một cách huyền nhiệm dựa trên các nguyên lý toán học. Chính tính chính thống của toán học về vũ trụ đã làm cho các lý luận gia muốn Einstein tiên đoán và khám phá các quy luật tự nhiên bằng giải pháp của các phương trình. Nhưng điều nghịch lý của vật lý học ngày nay là trước mọi sự hoàn thiện trong công cụ toán học, thì cái vực thẳm giữa con người trong vai trò kẻ quan sát và thế giới khách quan của sự mô tả khoa học càng trở nên rộng lớn.

Có lẽ ý nghĩa của điều này là, nếu xét về phương diện độ lớn, con người là vật trung gian giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Nó một cách nôm na, điều này có nghĩa rằng một tinh cầu màu đỏ khổng lồ nào đó (vật thể lớn nhất trong vũ trụ) thì lớn hơn con người rất nhiều, trong khi một electron (vật thể bé nhỏ nhất của các thực thể vật lý) thì nhỏ hơn. Do đó, không hề ngạc nhiên trước sự việc rằng những điều huyền nhiệm của tự nhiên luôn luôn hàm chứa trong các lãnh vực này, những lãnh vực đã bị đẩy thật xa khỏi tầm hiểu biết của con-người-bị-giác-quan-giam-hãm; và cũng không có gì ngạc nhiên trước sự việc khoa học – khi không thể mô tả được cái tận cùng của thực tại bằng sự ẩn dụ dung dị của vật lý học cổ điển — sẽ phải tự hài lòng với việc chú ý đến các mối tương quan toán học một khi chúng được khám phá.

III

Các nhà vũ trụ học hầu như đều giữ thái độ im lặng trước câu hỏi về nguồn gốc tối hậu, đồng thời để vấn đề này cho các triết gia và thần học giải quyết. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm thuần túy trong số các khoa học gia hiện đại mới xoay lưng trước điều bí ẩn đang nằm bên dưới thực tại vật chất. Einstein, người mà có triết lý khoa học lắm khi bị phê bình là duy vật, đã từng phát biểu:

Cảm xúc tuyệt đẹp và sâu lắng nhất mà chúng ta có thể trải qua là sự cảm nhận về điều huyền bí. Đó là kẻ gieo hạt cho mọi ngành khoa học đích thực. Kẻ mà cảm thấy xa lạ với cảm xúc này, và không còn có thể ngạc nhiên và chết sững vì kính sợ, là một con người hầu như đã chết. Biết rằng điều mà chúng ta không thể lãnh hội được thực sự vẫn tồn tại, đồng thời tự biểu lộ như là một sự thông tuệ cao cả nhất, như là một vẻ đẹp lộng lẫy nhất mà khả năng bé mọn của chúng ta chỉ có thể cảm nhận được các hình thức sơ khai nhất của nó — sự hiểu biết này, sự cảm nhận này liên quan đến đặc tính tôn giáo đích thực.

Và trong một dịp khác, ông tuyên bố, “Kinh nghiệm tôn giáo về vũ trụ là một động lực cao cả và mạnh mẽ nhất của việc nghiên cứu khoa học.” Hầu hết các khoa học gia, khi đề cập đến các điều huyền nhiệm của vũ trụ, đến các sức mạnh vô biên, đến nguồn gốc, tính hữu lý và sự hài hòa của nó, đều có khuynh hướng tránh dùng từ Thượng đế. Tuy nhiên, Einstein, người bị xem là kẻ vô thần, lại không có sự tránh né như thế. “Tôn giáo của tôi,” ông nói, “là sự thán phục dành cho đấng siêu linh có khả năng vô biên, đấng đã tự mặc khải trong những sự kiện bé nhỏ mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng một tâm trí yếu ớt, mong manh. Niềm tin sâu sắc và cảm động về sự hiện hữu của một sức mạnh siêu việt, cái được bộc lộ bằng một vũ trụ không thể hiểu nỗi, đã hình thành ý niệm Thượng đế của tôi.”

Về phía khoa học, hiện có hai cửa ngõ hứa hẹn cho triển vọng đến gần thực tại vật chất hơn. Cửa ngõ thứ nhất là đại viễn vọng kính đặt trên đỉnh núi Palomar, California. Viễn vọng kính này có thể đưa tầm nhìn của con người đến một vực thẳm không gian và thời gian sâu xa hơn bất cứ những gì được các nhà thiên văn học mơ ước cách đây một thế hệ. Cho đến gần đây, tầm nhìn tối đa của viễn vọng kính, về cơ bản, đã vươn tới các thiên hà cách chúng ta 500 triệu năm ánh sáng. Nhưng gương phản xạ đường kính 5.08 m của viễn vọng kính Palomar đã nâng tầm nhìn ấy lên gấp đôi, giúp con người có thể nhìn xa hơn nữa. Nó đã cho chúng ta thấy nhiều vùng không gian thuần nhất mới lạ và hàng vạn thiên hà xa xôi mà ánh sáng chết của nó đã mất một tỷ năm mới có thể lan truyền đến trái đất. Nhưng nó cũng có thể cho thấy nhiều thứ khác nữa – các sự biến đổi về mật độ vật chất hoặc bằng chứng hình ảnh về độ cong của không gian, để từ dó con người có thể tính toán chính xác kích thước của vũ trụ mà trong đó anh ta là một cư dân tầm thường và vô nghĩa.

Cửa ngõ thứ hai đưa đến sự hiểu biết này có thể được mở ra nhờ vào sự phát triển và khảo sát xa hơn về thuyết về Trường thống nhất mà Einstein đã cật lực nghiên cứu trong suốt hai mươi lăm năm cuối của cuộc đời ông. Ngày nay, các giới hạn bên ngoài của sự hiểu biết của con người đã được minh định bằng thuyết Tương đối, các giới hạn bên trong bằng thuyết Lượng tử. Thuyết Tương đối đã định hình mọi quan niệm của chúng ta về không gian, thời gian, trọng trường và các thực tế xa xôi và rộng lớn không thể cảm nhận được. Thuyết Lượng tử hình thành mọi quan niệm của chúng ta về nguyên tử, đơn vị căn bản của vật chất và năng lượng, và các thực tế nhỏ bé, khó nằm bắt và không thể cảm nhận được. Tuy nhiên, hai lý thuyết khoa học đồ sộ này lại dựa trên các nền tảng lý thuyết không liên quan với nhau và hoàn toàn khác nhau. Điều này giống như là chúng không nói cùng một ngôn ngữ. Mục đích của Thuyết về Trường thống nhất là nhằm xây dựng một nhịp cầu giữa chúng. Khi tin vào sự hòa hợp và tính đồng nhất của tự nhiên, Einstein đã phát triển một cơ cấu định luật vật lý để dung chứa cả các hiện tượng xuất phát từ nguyên tử và các hiện tượng ngoài không gian.

Một Thuyết về Trường thống nhất hoàn hảo thì luôn luôn chạm đến “mục tiêu cao cả của mọi ngành khoa học,” điều mà, như Einstein có lần định nghĩa, “sẽ bao quát số lượng lớn nhất các sự kiện do kinh nghiệm mà có bằng sự suy diễn hợp lý từ số lượng nhỏ nhất có thể được của các giả thuyết hoặc tiên đề.” Lòng thôi thúc củng cố các giả thuyết, hợp nhất các quan niệm, thâm nhập vào tính đa dạng và nét đặc thù của thế giới có thể nhìn thấy được để vươn tới sự thống nhất bất khả phân đang nằm ở phía trước không chỉ là chất men của khoa học; nó còn là nỗi đam mê cao quý nhất của trí năng con người. Triết gia và những người thần bí, cũng như khoa học gia, thông qua các phương pháp rèn luyện nội quan khác nhau, luôn luôn tìm cách đạt đến sự hiểu biết về bản thể tối hậu bất biến đang nằm chống đỡ bên dưới cái thế giới hư ảo biến dịch bên trên. Hơn hai mươi ba thế kỷ trước, Plato đã tuyên bố, “Kẻ yêu chuộng tri thức đích thực luôn luôn cố gắng để nắm được hữu thể… Anh ta sẽ không ngừng lại ở các hiện tượng mà sự tồn tại của chúng chỉ là dung mạo bên ngoài.”

* * *

Nhưng điều mỉa mai trong cuộc truy tìm thực tại của con người là khi tự nhiên bị lột đi các lớp vỏ ngụy trang, khi trật tự xuất hiện từ sự hỗn mang và thống nhất khởi nguồn từ tính đa dạng, khi các ý niệm hợp nhất và các quy luận cơ bản ngày càng khoác lấy một hình thức giản dị hơn, thì bức tranh tiến hóa càng lúc càng xa rời kinh nghiệm hơn bao giờ hết – xa lạ và khó nhận ra hơn rất nhiều so với khung xương bên dưới một khuôn mặt quen thuộc. Bởi vì nơi mà sự xếp đặt của bộ xương sọ đã định sẵn đường nét của các mô mà nó chống đỡ, thì không hề có sự giống nhau giữa hình ảnh của một cái cây được các giác quan của chúng ta ghi lại và hình ảnh được đề xuất bởi cơ học ba động (wave mechanics), hoặc giữa một cái nhìn thoáng qua về bầu trời đầy sao vào một đêm hè và miền liên tục (continuum) bốn chiều đã thay thế không gian cảm giác Euclide của chúng ta.

Khi cố gắng phân biệt biểu hiện bên ngoài với thực tại và lột trần cấu trúc căn bản của vũ trụ, khoa học đã phải vượt qua “sự phồn tạp của giác quan.” Nhưng cấu trúc cao cả nhất của nó, như Einstein đã chỉ ra, “đã bị bán đi bằng cái giá của sự trống rỗng về nội dung.” Quan niệm có tính lý thuyết đã trống rỗng về nội dung đến mức độ rằng nó đã bị tách ra khỏi kinh nghiệm giác quan; bởi vì thế giới duy nhất mà con người biết được là cái thế giới được tạo ra cho anh ta thông qua các giác quan của chính anh ta. Nếu anh ta xóa hết mọi ấn tượng mà chúng diễn dịch và được lưu trữ trong ký ức, thì không còn điều gì tồn tại nữa cả. Đó là điều mà triết gia Hegel muốn nói qua lời nhận xét bí ẩn: “Hữu thể thuần túy và Vô thể đều như nhau.” Tình trạng tồn tại mà không có sự tương hợp sẽ không có ý nghĩa. Thật là nghịch lý, điều mà khoa học gia và triết gia gọi là thế giới của sự biểu hiện bề ngoài — thế giới của ánh sáng và màu sắc, của bầu trời xanh lơ và hoa tươi lá thắm, của cơn gió thoảng và dòng nước rì rào, thế giới được định đoạt bởi chức năng sinh lý của các giác quan – là thế giới mà trong đó con người hữu hạn bị giam cầm bởi chính bản chất cố hữu của anh ta. Và điều mà khoa học gia và triết gia gọi là thế giới thực tại – vũ trụ không màu sắc, không âm thanh, khó nhận thức được, cái vũ trụ nằm như một tảng băng bên dưới mặt phẳng nhận thức của con người — lại là khung xương của mọi biểu tượng.

Trong dòng tiến hóa của tư tưởng khoa học, một sự kiện đã trở nên hết sức rõ ràng, đó là: không có điều bí ẩn nào của thế giới vật chất mà lại không đưa đến một điều bí ẩn nằm đằng sau nó. Mọi xa lộ tri thức, mọi ngõ rẽ lý thuyết, mọi ước đoán, cuối cùng, đều dẫn đến một vực thẳm mà sự khôn ngoan của con người không bao giờ có thể lấp đầy và vượt qua; lý do là vì con người bị trói buộc bởi chính điều kiện tồn tại, tính hữu hạn và các hoạt động của chính mình trong thế giới tự nhiên. Anh ta càng vươn xa hơn, thì anh ta càng nhận rõ sự thật này, theo lời nhà vật lý Niels Bohr, “chúng ta vừa là khán giả, vừa là diễn viên, trong vở kịch vĩ đại của sự tồn tại.” Vì thế, con người là sự bí ẩn của chính anh ta. Anh ta không hiểu được cái vũ trụ bao la đang bị che phủ, cái vũ trụ mà anh ta đã bị ném vào vì lý do rằng anh ta không hiểu chính mình. Anh ta chỉ hiểu một ít về các quy trình hữu cơ trong anh ta, và thậm chí hiểu biết còn ít hơn như thế về cái khả năng nhận thức thế giới xung quanh rất độc đáo của mình, để có thể lý giải, để có thể ước mơ. Nhưng ít nhất, anh ta cũng hiểu được khả năng cao quý và diệu kỳ nhất của mình, đó là: khả năng vượt qua và cảm nhận chính mình trong hành vi nhận thức.

Điểm bế tắc của con người nằm ở chỗ anh ta là một phần của cái thế giới mà anh ta tìm cách khám phá; cơ thể và bộ não kiêu hãnh của anh ta sự tập hợp của các phần tử căn bản giống như những phần tử tạo nên bóng tối, những đám mây bụi đang dật dờ bay trong khoảng không bao la giữa các vì sao; anh ta chỉ là, nói cho kỳ cùng, thể dạng phù du của trường không gian-thời gian nguyên khởi. Khi đứng lơ lửng giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô, anh ta nhìn đâu cũng thấy những rào cản, và có lẽ chỉ còn biết kinh ngạc mà thốt lên rằng, như thánh Paul đã từng một ngàn chín trăm năm về trước, “thế giới được sáng tạo bằng ngôn lời của Thượng đế, khiến cho cái được thấy đều được làm từ cái không bao giờ xuất hiện.”

____________

[1] “Giáo sư emeritus” (professor emeritus) là một giáo sư thực thụ, thường đã làm việc toàn thời gian, nhưng hiện tại đã nghỉ hưu, không còn giảng dạy hay tiến hành nhiều nghiên cứu nữa; và tuy nghỉ hưu, ông vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết trình, giảng dạy, tham khảo ý kiến hay được trao một giải thưởng nào đó. (chú thích này ND sao lại từ website của Giáo phận Ban Mê Thuột, tại http://gpbanmethuot.vn/content/t%E1%BB%AB-v%E1%BB%B1ng-c%C3%B4ng-gi%C3%A1o-emeritus-danh-d%E1%BB%B1-c%E1%BB%B1u-nguy%C3%AAn?page=21

Advertisements

18. Charles Sanders Pierce – Quan điểm Khoa học và Thuyết Có thể Sai lầm

Giới thiệu:

Không phải sau một vài năm sau khi qua đời vào năm 1914 thì Charles Sanders Pierce mới được nhìn nhận là một nhà văn kiệt xuất; cho đến nay, ông còn được liệt vào một trong số các triết gia Mỹ tài năng và có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất. Ông chào đời năm 1839 tại Cambridge, Massachusetts, và là con của một nhà toán học lỗi lạc, người đã khuyến khích lòng đam mê toán học và khoa học sớm nảy nở nơi ông, đồng thời đã gieo vào tâm trí ông mối hoài nghi ngày càng gia tăng đối với các triết lý được thừa nhận trong thời đại của ông. Pierce theo học tại Harvard, nơi ông chỉ giao du với một nhóm nhỏ bằng hữu trí thức, và sau đó làm việc ít năm cho Cơ quan Trắc địa của chánh phủ liên bang. Lúc sinh thời, chưa bao giờ ông nhận được một sự thừa nhận về mặt học thuật nào dành cho khả năng tri thức hoàn toàn xứng đáng của mình. Trong tiểu luận Concerning the Author (phần thứ nhất của tiểu luận này sẽ được giới thiệu dưới đây), Pierce kể về nền giáo dục sâu rộng mà ông thụ nhận. Ông giải thích rằng ông hoàn toàn đủ khả năng viết về khoa học, bởi vì trước đó ông đã được học vật lý, hóa học và toán học. Ông còn cẩn trọng nói thêm ông cũng đã nghiên cứu thấu đáo về triết học và luận lý học, vì sợ rằng người ta có thể nghĩ khi ông đánh giá thấp về các triết gia, thì điều ông nói vốn xuất phát từ định kiến hoặc sự không hiểu biết.

Hai bài tiểu luận được giới thiệu trong tập sách này sẽ mang đến sự mô tả xuất sắc về quan điểm khoa học như là một sự hiểu biết trực tiếp của Pierce. Chúng là một lời đáp bổ ích cho các nhà khoa học nghiệp dư, những người thường có giọng điệu “cả quyết” về sự hiểu biết của họ, và cho các triết gia nghiệp dư, những người thường lên án khoa học như thể là chính họ là kẻ đã đạt được chân lý tối hậu. Ý nghĩa của “tính khiêm cung” của các khoa học gia chân chính, sự tìm kiếm chân lý, vì sự lợi ích của chính chân lý, một cách miệt mài của nhà khoa học, tầm quan trọng, một mặt, của óc sáng tạo, và mặt khác, của sự tận hiến cho sự thật — tất cả những điều này có chỗ đứng thật rõ ràng và nổi bật trong tinh thần khoa học mà Pierce đã khắc họa một cách khéo léo.

Là một tư tưởng gia độc đáo, Pierce đã đề xuất nhiều ý tưởng mà ngày nay được nhiều người ủng hộ, đồng thời ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc định hình tư tưởng khoa học hiện đại. Trong thập niên 1930, các nhà thực chứng luận lý, hiện đang là những kẻ cổ súy có ảnh hưởng nhất cho một triết lý khoa học triệt để, đã ca ngợi Pierce là người tiên phong vĩ đại đối với những quan điểm mà họ đang theo đuổi. Ba mươi năm trước đó, William James, một nhân vật sớm được nhìn nhận là triết gia vĩ đại đầu tiên của nước Mỹ, đã mượn của Pierce ý tưởng về thuyết thực dụng, cái mà sau đó James đã biến thành một triết lý phổ biến nhất tại đất nước này. Thực vậy, James rất ngưỡng mộ Pierce và là một trong số ít người công nhận tầm vóc Pierce khi ông còn sinh thời.

Pierce chỉ xuất bản một cuốn sách duy nhất trong suốt cuộc đời của mình. Trong trích đoạn dưới đây, khi nói một cách hài lòng về một tác phẩm sắp ấn hành, ông đã đề cập đến một ước vọng lớn lao, một ước vọng không bao giờ trở thành hiện thực. Tuy nhiên, khoảng hai mươi năm sau khi ông qua đời, những nhà biên tập ngưỡng mộ ông đã xuất bản Collected Papers (1931 – 1935) gồm sáu bộ của ông. Hai bài tiểu luận dưới đây được trích trong The Philosophy of Pierce: Selected Writing, một tác phẩm thậm chí chỉ được ấn hành mới đây, năm 1940.

__________

I

Về tác giả

Độc giả có quyền biết cách thức hình thành quan điểm của tác giả. Cố nhiên, không phải vì anh ta được trông đợi chấp thuận bất cứ kết luận nào không nảy sinh từ sự lập luận. Nhưng trong các cuộc luận bàn về những điều vô cùng khó khăn như thế này, khi mà sự xét đoán đúng đắn là một nhân tố có tính chi phối, và sự suy luận thuần túy không phải là điểm then chốt duy nhất, thì nhất thiết phải cân nhắc mọi yếu tố liên quan. Vả lại, từ khoảnh khắc mà tôi biết suy nghĩ cho đến bây giờ, một quãng thời gian dài độ bốn mươi năm, tôi đã dành hết thì giờ và tâm sức cho việc nghiên cứu các phương pháp tìm kiếm sự thật, cả những phương pháp đã và hiện được theo đuổi, lẫn những phương pháp sẽ được theo đuổi. Khoảng mười năm trước khi cuộc nghiên cứu này bắt đầu, tôi được đào luyện trong một phòng thí nghiệm hóa học. Tôi được truyền thụ một cách thấu đáo không chỉ tât cả những kiến thức về hóa học và vật lý học, mà còn được thụ nhận cách thức bước đi của những người đã thành công trong việc thúc đẩy sự hiểu biết. Tôi đã chú tâm một cách tối đa vào các phương pháp nghiên cứu của những ngành khoa học chính xác, đã cảm thông sâu sắc với một vài nhân vật vĩ đại nhất của thời đại chúng ta trong lãnh vực khoa học tự nhiên, đồng thời cũng có những đóng góp tích cực – tuy không phải sự đóng góp nào cũng mang tính chất trọng đại – vào ngành toán học, quang học, hóa học, thiên văn học v.v… Dần dần, trong tôi đã hoàn toàn thấm đẫm tinh thần khoa học. Tôi từng là một người học luận lý học một cách chuyên cần, đã đọc nhiều thứ quan trọng và không quan trọng về đề tài này, đã dành nhiều thời gian cho tư tưởng trung cổ mà không hề lơ là các tác phẩm của người Hy-lạp, người Anh, người Đức, người Pháp…, đồng thời cũng đã tự mình đưa ra một hệ thống luận lý học cả về diễn dịch lẫn quy nạp. Trong lãnh vực siêu hình học, sự hiểu biết của tôi ít mang tính hệ thống; tuy nhiên, tôi đã đọc và suy tư sâu sắc về tất cả các hệ thống chính yếu, nhưng không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, cho đến khi nào có thể cảm nghiệm về chúng giống như những người ủng hộ chúng đã cảm nghiệm.

Những cuốn sách triết lý đầu tiên mà tôi đã đọc là những cuốn viết về các trường phái triết học cổ điển Đức; và tôi đã thấm nhuần nhiều cách suy nghĩ của chúng, đến nỗi không bao giờ tôi có thể tự thoát ra khỏi chúng. Tuy nhiên, quan điểm của tôi lúc nào cũng là quan điểm của một người làm việc trong phòng thí nghiệm, chỉ thích tìm hiểu những gì mà tôi chưa biết, chứ không phải là quan điểm của các triết gia được dưỡng dục trong các ngôi trường thần học, nơi mà động lực tối thượng của chúng là dạy những gì mà họ tin là một sự thật bất khả sai lầm. Tôi thường bỏ ra hai giờ đồng hồ một ngày để nghiên cứu Critic of the Pure Reason (Phê phán Lý tính Thuần túy) của Kant trong quãng thời gian hơn ba năm, cho đến khi tôi hầu như thuộc lòng toàn bộ cuốn sách, và đã khảo sát một cách nghiêm túc mọi phần của cuốn sách đó. Trong hai năm trời, tôi đã có những cuộc thảo luận hàng ngày với Chauncey Wright, một trong những môn đồ nhạy bén nhất của J. S. Mill.

Do đó, nói một cách ngắn gọn, triết lý của tôi có thể được mô tả như là sự nỗ lực của một nhà vật lý học đưa ra sự ước đoán liên quan đến sự hình thành của vũ trụ bằng cách dựa trên các phương pháp khoa học có thể áp dụng được, cùng với sự trợ giúp của tất cả những gì mà các triết gia đã thực hiện trước đây. Tôi sẽ bảo vệ các ý tưởng của mình bằng bằng mọi lập luận mà tôi có thể đưa ra. Bằng chứng minh họa sẽ không được nghĩ đến. Mọi sự minh họa của các nhà siêu hình học đều có tính cách ảo tưởng. Điều tốt nhất có thể làm là cung cấp một giả thuyết nào đó, cái không phải không có khả năng xảy ra, trong đường hướng phát triển chung của các tư tưởng khoa học, và nó có thể được xác nhận hoặc bị bác bỏ bởi các nhà quan sát sau này.

Thực ra, thuyết bất khả sai lầm của tôn giáo, được nhìn nhận trong thời đại hiện nay, đã cho thấy các biểu hiện của sự tự tuyên bố rằng mình là cái duy nhất không thể sai lầm; và do đó, một khi nó tự thú nhận phải lệ thuộc vào sự biến đổi, thì không còn bất cứ di sản nào của thuyết bất khả sai lầm tốt đẹp của thế kỷ thứ mười có thể đứng vững, ngoại trừ hình ảnh còn lại của những khoa học gia bất khả sai lầm, một đề mục mà tôi đề cập đến bên dưới; đây không chỉ là loại khoa học gia đã sản sinh ra những quyển giáo lý và các bài thuyết pháp khoa học buồn tẻ, và cũng không chỉ là những khoa học gia đã tạo ra giáo hội và tín điều và “những nhà truyền giáo bẩm sinh”, mà còn là tất cả những nhân vật đáng kính và có giáo dục, những người mà, khi thủ đắc các ý niệm về khoa học bằng việc đọc, chứ không bằng sự nghiên cứu, quan niệm rằng “khoa học” có nghĩa là kiến thức, trong khi thật ra đó chỉ là một danh xưng không đúng, chỉ thích hợp cho các hoạt động của những ai bị cái khát vọng khám phá sự vật chế ngự.

Mặc dầu tính bất khả sai lầm trong các vấn đề khoa học, đối với tôi, dường như là một điều hết sức khôi hài, nhưng tôi sẽ rất buồn nếu như tôi không thể giữ lòng kính trọng đối với những ai vẫn tin tưởng vào nó, bởi vì họ là những người chưa bao giờ được đối thoại. Khi nói tin tưởng vào nó, tôi muốn nói rằng họ thừa nhận các chức năng của nó một cách tự nhiên và vô ý thức. Họ không bao giờ nhận thức được ý nghĩa trọn vẹn của câu cách ngôn nhân vô thập toàn. Trong các môn khoa học về đo lường vốn ít gặp sai sót nhất — chẳng hạn, đo lường học, trắc địa học, thiên văn học đo đạc – không một người tự trọng nào cho đến nay có thể công bố kết quả nghiên cứu của anh ta mà lại không kèm theo các chỉ số về khả năng sai sót; và nếu như thói quen này không thấy xuất hiện trong cách lãnh vực khoa học khác, thì điều đó là bởi vì trong các lãnh vực khoa học ấy khả năng sai sót quá lớn để có thể ước tính.

Chỉ một lần, theo như trí nhớ của tôi, trong đời, tôi đã trải qua cảm giác khoan khoái của sự ngợi khen – không phải vì những gì mà sự ngợi khen ấy mang đến, mà vì chính nó. Sự khoan khoái ấy thật hạnh phúc; và lời ngợi khen đã mang lại cảm giác khoan khoái cho tôi lại là một lời trách móc. Đó là việc một nhà phê bình đã nói về tôi rằng dường như tôi không bao giờ cảm thấy hoàn toàn chắc chắn về chính các kết luận của mình. Chưa bao giờ, nếu phải nói như vậy, nhà phê bình ấy để mắt đến những điều tôi hiện đang viết; nhờ có anh ta mà tôi hưởng được một niềm vui to lớn; và lòng căm ghét rành rành như thế của anh ta là điều mà anh ta sẽ sớm nhận ra, chỉ sợ rằng ngọn lửa địa ngục ấy lại được nuôi dưỡng bằng nguồn nhiên liệu mới trong lồng ngực của anh ta.

Sách của tôi không có lời huấn thị nào để truyền đạt cho mọi người. Giống như một luận thuyết về toán học, nó sẽ đề xuất những ý tưởng nào đó đồng thời đưa ra những lý lẽ nào đó để cho rằng các ý tưởng ấy đúng đắn; nhưng khi đó, nếu bạn thừa nhận chúng, thì có thể là vì bạn thích các lý lẽ của tôi, và trách nhiệm vẫn nằm về phía bạn. Con người vốn là động vật có tính xã hội: nhưng xã hội tính là một chuyện, tính bầy đàn là một chuyện khác. Sách của tôi được dành cho những ai muốn khám phá; và người nào cần món “súp” triết học thì có thể đi đến nơi khác. Có nhiều cửa hiệu bán “súp” triết học ở mọi góc đường, xin cảm ơn Thượng đế!

Sự trình bày các quan niệm của tôi là kết quả của ba mươi năm làm việc cần mẫn. Tôi đã không biết khi nào thì nên xuất bản chúng; sự chín muồi của chúng dường như diễn ra quá chậm chạp. Nhưng cuối cùng thì mùa gặt cũng đã đến, và đối với tôi, vụ mùa ấy vẫn còn sơ sài, nhưng tất nhiên tôi không phải là người đưa ra lời xét đoán. Cũng chẳng phải bạn, cá nhân người đọc; mà chính kinh nghiệm và lịch sử sẽ làm công việc ấy.

Nhiều năm trời, trong khi tiến trình chín muồi này đang diễn ra, tôi thường thu thập các ý tưởng của mình và đặt chúng vào phạm vi của một lý thuyết được mệnh danh là thuyết có thể sai lầm; và bước chân đầu tiên tiến về phía hành động khám phá là mạn phép coi như bạn không biết gì cả, để không một ảnh hưởng xấu nào có thể ngăn chặn sự phát triển tri thức như là sự ảnh hưởng của thói kiêu mạn; chín mươi chín phần trăm cái đầu thông tuệ đều trở nên bất lực vì thói kiêu mạn đó — lạ lùng thay, người ta thường không nhận biết được sự xâm nhập của nó.

Thực vậy, toàn bộ triết lý của tôi dường như luôn luôn xuất phát từ thuyết có thể sai lầm đầy tính ăn năn, đồng thời kết hợp với niềm tin cao cả vào sự thực tế của tri thức, và một ước vọng khám phá mãnh liệt.

II

Nếu cố gắng hình thành các quan niệm của mình dựa trên lịch sử và cuộc sống, thì chúng ta thấy rằng có ba dạng người. Dạng thứ nhất gồm những kẻ mà điều trọng yếu đối với họ là các xúc cảm. Những người này sáng tạo ra nghệ thuật. Dạng thứ hai gồm những kẻ thực dụng. Đây là những người can dự vào sự hoạt động của thế giới. Họ không tôn trọng điều gì cả, ngoài quyền lực, và chỉ tôn trọng quyền lực khi nào mà nó được thực thi. Dạng thứ ba gồm những người mà đối với họ không có điều gì là trọng đại, ngoại trừ lý lẽ. Nếu sức mạnh có làm cho họ lưu tâm đến, thì sự quan tâm ấy không nằm ở việc sử dụng sức mạnh, mà nằm ở sự việc rằng sức mạnh ấy có một lý lẽ và quy luật nào đó. Đối với dạng người thứ nhất, thiên nhiên là một bức tranh; với dạng thứ hai, là một vận hội; với dạng thứ ba, là một tổng thể hài hòa đáng ngưỡng vọng, cho đến nỗi xâm nhập vào các cách thức hoạt động của nó, đối với họ, dường như là điều duy nhất làm cho cuộc sống trở nên đáng sống. Đây là những người mà chúng ta nhận thấy họ bị ám ảnh bởi nỗi đam mê học hỏi, trong khi những người khác thì lại có nỗi đam mê dạy dỗ và gieo rắc sự ảnh hưởng của họ. Sở dĩ có lúc họ không dành toàn bộ thời gian cho nỗi đam mê học hỏi đó, là vì họ đang rèn luyện tính tự chế. Đây chính là những nhà khoa học tự nhiên, và họ là những người duy nhất đạt được sự thành công đích thực trong hoạt động nghiên cứu khoa học.

Nếu cần một định nghĩa về khoa học, không phải trong ý nghĩa của sự nhồi nhét nó vào ngăn kéo giả tạo, nơi mà nó có thể lại được tìm thấy bằng một nhãn hiệu vô nghĩa nào đó, nhưng trong ý nghĩa của việc mô tả nó như là một thực thể lịch sử sống động, thì chúng ta sẽ phải quan niệm nó như là cái mà những người như tôi vừa mô tả luôn luôn phải dành thời gian cho. Chỉ như thế, nó mới không nằm quá nhiều ở khía cạnh hiểu biết, thậm chí cũng không ở khía cạnh “tri thức đã được sắp xếp,” bởi vì nó đã như vậy trong quá trình miệt mài tìm kiếm sự thật vì chính lợi ích của sự thật, không hề có bất cứ loại mục đích cá nhân nào cần phải vươn tới, chứ không phải vì nỗi khoái cảm của việc chiêm nghiệm về nó, mà lại xuất phát từ sự thôi thúc phải thâm nhập vào cái căn lý của sự vật. Đây chính là ý nghĩa mà vì đó quyển sách này được mệnh danh là một dạng lịch sử khoa học. Khoa học và triết học dường như đã bị đổi thay ở điểm khởi nguồn của chúng. Bởi vì, không phải sự biết, mà chính lòng ham học hỏi, mới là cái hình thành đặc điểm của con người khoa học; trong khi đó, “triết gia” là một người cầm giữ một hệ thống mà ông ta nghĩ rằng đó là sự thể hiện của tất cả những gì đáng hểu biết nhất. Nếu một người khát khao học hỏi và cương quyết so sánh các ý tưởng của mình với kết quả thực nghiệm để có thể tu chỉnh các ý tưởng đó, thì tất cả những nhà khoa học sẽ coi người đó là một bậc đàn anh, cho dầu kiến thức của anh ta có nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa.

Nhưng nếu một người đắm chìm trong việc tìm kiếm sự thật đó vì một mục đích kín đáo nào đó, chẳng hạn như để kiếm tiền, hoặc để cải thiện đời sống, hoặc để làm lợi cho người của mình, thì anh ta có thể sẽ có ích hơn nhiều so với nhà khoa học, nhưng anh ta không phải là nhà khoa học. Thí dụ như, có nhiều nhà hóa học dành hết thời gian để nghiên cứu chuyên biệt về các loại thuốc nhuộm. Họ khám phá ra rằng chúng hữu ích cho ngành hóa học, nhưng họ không được liệt vào đội ngũ những nhà khoa học đích thực. Đồi với nhà hóa học đích thực, sự quan tâm tìm hiểu về chất erbium – tính cực hiếm của chất này làm cho nó không có tầm quan trọng về phương diện thương mại — lúc nào cũng ngang bằng với sự quan tâm tìm hiểu về bất cứ kim loại nào khác. Anh ta càng hăng say tìm hiểu về erbium hơn, nếu như sự hiểu biết về nó sẽ đóng góp nhiều hơn cho việc hoàn thiện ý niệm của anh ta về định luật tuần hoàn, một định luật mô tả mối quan hệ hỗ tương giữa các nguyên tố hóa học.

Khi một người có sự khát khao cháy bỏng trong việc khám phá sự thật, thì nỗ lực đầu tiên của anh ta sẽ là mường tượng xem sự thật ấy có thể là gì. Anh ta không thể tiếp tục hành trình tìm kiếm sự thật, mà lại không nhận thấy rằng sự tưởng tượng thiếu kềm chế chắc chắn sẽ ném anh ta ra khỏi con đường. Tuy nhiên, vẫn hoàn toàn đúng đắn khi nhận định rằng rốt lại không có điều gì ngoài sự tưởng tượng có thể mang lại cho anh ta một ý niệm mơ hồ về sự thật. Anh ta có thể có cái nhìn xuẩn động về các hiện tượng, nhưng khi thiếu vắng óc tưởng tượng, các hiện tượng ấy sẽ không đan kết lại với nhau theo một cách thức hữu lý. Chỉ có Peter Bell[1], thì cây anh thảo hoa vàng không là gì cả và chỉ là cây anh thảo hoa vàng; cũng vậy, với hàng ngàn người khác, một trái táo rơi xuống mặt đất chỉ là một trái táo rơi xuống mặt đất mà thôi; và so sánh nó với mặt trăng, đối với họ, là một hành động kỳ quặc.

Không có gì quá đáng khi nói rằng ngoài lòng đam mê học hỏi, không còn một yếu tố nào cần thiết bằng sự tưởng tượng trong công việc nghiên cứu khoa học. Hãy tìm cho tôi một dân tộc mà nền y học phôi thai của họ lại không gắn liền với ma thuật và bùa chú, và tôi sẽ tìm cho bạn một dân tộc hoàn toàn thiếu vắng mọi khả năng khoa học. Không hề có ma thuật trong sách y học Papyrus Ebers. Người Ai-cập lạnh lùng không hề thấy điều gì trong các chứng bệnh, ngoài sự rối loạn của bộ phận cơ thể bị tác động. Chưa bao giờ có một nền khoa học Ai-cập đích thực.

Rõ ràng là có nhiều loại tưởng tượng không có giá trị về phương diện khoa học. Chúng chỉ là sự tưởng tượng mang tính chất nghệ thuật, sự mơ ước về những vận hội cần đạt tới. Tưởng tượng khoa học mơ về những biện giải và quy luật.

III

Năm mươi năm qua đã dạy cho chúng ta một bài học về việc không được xem nhẹ các sự kiện thực tế, và không nên tin cậy vào các nguyên lý và phương pháp mà không được thiết lập một cách hợp lý trên sự kiện thực tế và chỉ được đưa ra nhằm để tống xuất bằng chứng ra khỏi sự suy xét.

Chẳng hạn như, đó chính là lời tuyên bố của Claude Bernard, một lời tuyên bố đã cho rằng bệnh tật không phải là một thực thể — đây quả là một lý thuyết siêu hình thuần túy. Nhưng sự quan sát thực tế đã dạy chúng ta rằng một chứng bệnh, trong nhiều, nếu không nói là hầu hết, trường hợp, vốn là một thực thể giống như một gia đình gồm có cha mẹ và con cái.

Chính lời tuyên bố của nền tâm lý học cũ kỹ này, một lý thuyết đã đồng nhất linh hồn với bản ngã, đã bày tỏ tính giản đơn tuyệt đối của bản ngã, rồi cho rằng mọi năng lực của nó chỉ là những danh xưng dành cho sự phân chia hợp lý trong hoạt động cùa con người. Đây quả là một điều tưởng tượng hoàn toàn. Sự quan sát thực tế đã dạy chúng ta rằng bản ngã chỉ là một gợn sóng của linh hồn, một đặc điểm hời hợt và nhỏ bé, rằng linh hồn có thể dung chứa nhiều phẩm tính, đồng thời cũng phức tạp như não bộ, và rằng các năng lực vừa nói, mặc dầu không thể định nghĩa một cách chính xác và không hoàn toàn cố định, cũng có thực như các nếp xoắn khác nhau của vỏ não.

Đó chính là những lời tuyên bố mà nhờ vào chúng, người ta đã đưa lời chỉ trích của chính các nhà nghiên cứu sử học về các tài liệu lịch sử đến một tầm mức rằng nó chẳng khác gì sự bác bỏ mọi cứ liệu hiện đã đến tay chúng ta, và chẳng khác gì sự thay thế nó bằng một ước mơ đang luẩn quẩn trong đầu của người phê bình. Nhưng các nhà nghiên cứu về khảo cổ học đã chứng minh rằng các bằng chứng cổ xưa phần lớn cần phải được tin cậy, kèm theo đó là một sự cân nhắc nhỏ dành cho các biến đổi ý nghĩa của ngôn từ. Khi được bảo Pythagore có bắp đùi vàng, thì chúng ta cần phải nhớ rằng đối với người thượng cổ, vàng không có nghĩa là một nguyên tố hóa học có trọng lượng nguyên tử là 197.5, khối lượng riêng là 19.3, nóng chảy ở nhiệt độ 1045oC, và hình thành các hợp chất có chứa muối theo dạng AuX và AuX3. Nó có nghĩa một cái gì đó có sự óng ánh như kim loại, ấm hơn hợp kim vàng bạc và dịu hơn đồng. Những khám phá của tiến sĩ Schliemann là một “cú đấm” quyết định mà ngành “văn hiến học phê phán lịch sử” (higher criticism) đã phải nhận lãnh. Sau đó, nó còn phải chịu nhiều “cú đấm” khác nữa.

Đó chính là những lời tuyên bố mà nhờ vào chúng, mọi thứ thuộc về bản chất của những năng lực phi thường, khi kết hợp với các tình trạng tâm lý, mà trong đó, trạng thái bị thôi miên là một ví dụ, đã được giải thích là những trò gian trá. Hiện nay, trong khi sự tồn tại của năng lực ngoại cảm chưa được xác minh, thì tất cả các nhà khoa học đều có bổn phận phải, thông qua việc quan sát sự kiện thực tế, thừa nhận rằng ít nhất, đó là một vấn đề rất nghiêm túc và cần phải có phương cách xử sự thật tôn trọng đối với nó.

Những người biết đến khoa học chủ yếu chỉ bằng các kết quả của nó – nghĩa là không hề gắn bó với nó như là một sự tìm tòi sống động — thường có khuynh hướng quan niệm rằng hiện nay mọi đặc điểm trọng yếu của vũ trụ đã được lý giải hoàn toàn; và rằng chỉ có đôi chỗ, đôi lúc thì bức màn tri thức khoa học mới bộc lộ vết rách.

Nhưng thực ra, bất kể những gì đã được khám phá kể từ thời Newton, thì lời phát biểu của ông rằng chúng ta chỉ là những đứa trẻ đang nhặt nhạnh những hòn cuội trên bãi biển, trong khi đại dương phía trước vẫn chưa được khám phá, về căn bản, vẫn luôn luôn đúng, và cũng sẽ mãi mãi đúng, dẫu cho chúng ta có xúc những hòn cuội bằng máy xúc để chất chúng lên xe tải. Một tỷ số vô cùng bé có thể được tăng liên tục lên gấp bội và vẫn nằm trong tình trạng vô cùng bé.

Sẽ vô cùng lầm lẫn khi cho rằng đầu óc của nhà khoa học tích cực luôn luôn đầy ắp những định đề, dẫu chưa được chứng minh để không còn bất cứ sự phản đối hữu lý nào, vẫn hoàn toàn có khả năng là xác thực. Trái lại, ông ta thường ấp ủ các giả thuyết hầu như là vô cùng khó tin, và rất trân quý chúng. Tại sao ông ta làm như vậy? Đơn giản là vì bất cứ định đề khoa học nào, dù khả tín đến đâu đi chăng nữa, cũng có thể bị sớm phản bác và bỏ rơi. Giả thuyết là một cái gì đó trông có vẻ là điều chân xác và có thể đúng, đồng thời là cái có khả năng xác minh hoặc phản bác bằng cách so sánh với các sự kiện thực tế. Giả thuyết tốt nhất, theo ý nghĩa là điều hấp dẫn nhất đối với người tìm kiếm sự thật, là cái có thể dễ dàng phản bác nhất nếu như nó không đúng. Điều này quan trọng hơn rất nhiều so với lợi điểm vặt vãnh của giả thuyết có vẻ phù hợp với sự thật. Nhưng giả thuyết có vẻ phù hợp với sự thật là gì? Nó là cái trùng hợp với những ý niệm sẵn có của chúng ta. Nhưng những ý niệm này có thể sai. Những sai lầm của chúng là điều mà nhà khoa học rất khó nhận ra. Nhưng nếu một giả thuyết có thể bị loại bỏ một cách dễ dàng và nhanh chóng để thu dọn chiến trường cho trận chiến quan trọng, thì đó là một ưu thế to lớn vô cùng.

IV

Từ quy luật của lý trí rằng để có thể học hỏi, bạn phải khát khao học hỏi, đồng thời không được thỏa mãn với những gì mà bạn suy nghĩ, đã dẫn đến một hệ quả như sau, một hệ quả xứng đáng được khắc ghi trên mọi bức tường của kinh thành triết học:

Đừng bao giờ phong tỏa con đường tìm hiểu sự thật.

Dẫu cần phải làm việc cẩn trọng và có phương pháp trong nghiên cứu, và dẫu cần phải cân nhắc các yếu tố kinh tế của việc nghiên cứu, nhưng không có gì là sai trái trong việc thử nghiệm bất cứ lý thuyết nào nảy sinh trong đầu chúng ta, miễn là nó được áp dụng theo một ý nghĩa là nhằm làm cho cuộc nghiên cứu không bị trở ngại và ngưng trệ vì sự nản chí. Mặt khác, dựng lên một triết lý mà cản trở con đường tìm kiếm sự thật là một lỗi lầm không thể dung thứ trong sự suy luận; đây là điều mà các nhà siêu hình học thuộc mọi thời đại không hề tránh được.

Tôi xin lưu ý các bạn bốn hình thức quen thuộc, qua đó lỗi lầm tai hại này đã công phá sự hiểu biết của chúng ta.

Đầu tiên là sự cả quyết tuyệt đối. Sự thật ngàn đời là trong khoa học, chúng ta không thể chắc chắn về điều gì cả. Học viện của Plato đã dạy như thế. Tuy nhiên, khoa học đã bị phá hoại bằng sự cả quyết thái quá, đặc biệt là đối với những người mà công việc của họ là truyền dạy tri thức nhiều hơn là nghiên cứu. Rõ ràng một số bộ môn hình học vẫn dạy một định đề, với tư cách là một điều hiển nhiên đúng, rằng nếu hai đường thẳng nằm trên một mặt phẳng bị cắt bởi một đường thẳng thứ ba sao cho tổng số đo hai góc trong của một bên nhỏ hơn 180o, thì hai đường thẳng ấy sẽ cắt nhau, nếu được kéo đủ dài. Euclid, người có lập luận cẩn trọng hơn, chỉ xem định đề này như là một giả định, hoặc một giả thuyết tùy tiện. Tuy nhiên, ông cũng đã đưa vào các tiên đề của mình một định đề rằng một phần thì luôn luôn nhỏ hơn cái toàn thể chứa nó, và do đó đã có nhiều điều mâu thuẫn với hình học hiện đại của chúng ta. Nhưng tại sao chúng ta phải dừng lại để xem xét các trường hợp, mà trong đó người ta cần phải có sự suy nghĩ khôn ngoan để nhìn thấy rằng sự cả quyết không là điều bảo đảm cho sự thật, một khi mọi cuốn sách đưa triết lý vào việc xếp đặt cuộc sống đều được đặt ra như là những định đề chắc chắn đúng, những cái mà chúng ta hoàn toàn dễ dàng nghi ngờ cũng như là tin theo?

Hình thức quen thuộc thứ hai là rào cản mà các triết gia thường dựng ngang con đường tìm kiếm sự thật bằng cách cho rằng điều này, điều nọ hoặc điều kia là những cái không bao giờ có thể hiểu được. Khi Auguste Comte bị thúc giục phải minh định một vấn đề xác thực nào, mà sự hiểu biết về chúng là điều không một người nào có đủ khả năng lãnh hội, ông liền đưa cấu tạo hóa học của các định tinh ra làm ví dụ; bạn có thể xem lời đáp của ông trong tác phẩm Philosophie positive. Nhưng mực hầu như chưa khô hẳn trên trang giấy khi kính quang phổ được khám phá, và điều mà trước đó ông đã tưởng rằng không thể biết, thì nay lại đang trong tiến trình được khẳng định. Thật dễ dàng khi đề cập đến một vấn đề mà lời đáp của nó, đối với tôi, hiện nay chưa được biết. Nhưng khẳng định rằng lời đáp ấy sẽ không được tìm ra trong tương lai là một hành động rất mạo hiểm; bởi vì lắm khi chính sự thật ít được trông đợi nhất lại là cái mà lưỡi cày nghiên cứu thường tình cờ xới lên. Và khi cả quyết rằng sự thật sẽ không bao giờ bị khám phá dưới ánh sáng lịch sử của thời đại chúng ta, thì đối với tôi, sự cả quyết này còn nguy hiểm hơn cả những hành động liều lĩnh của Andrée[2].

Hình thức quen thuộc thứ ba là sự lường gạt có tính chất triết học nhằm ngăn chặn cuộc truy tìm sự thật. Lập luận của sự lường gạt này thường có luận điệu như sau: yếu tố khoa học này, yếu tố khoa học nọ là những yếu tố căn bản, có tính chất tối thượng, có vị trí độc lập với tất cả những yếu tố khác và hoàn toàn không thể giải thích được — ngoại trừ những khiếm khuyết trong sự hiểu biết của chúng ta, không có gì là đáng kể, bởi vì không có gì đáng để tìm hiểu cả. Lập luận kiểu này có tên là lập luận suy diễn (retroduction), loại lập luận mà nhờ vào nó câu kết luận như trên mới có thể được đưa ra. Không điều gì biện minh cho sự kết luận có tính chất suy diễn, ngoại trừ việc nó tự tạo ra sự giải thích cho các sự kiện. Tuy nhiên, đó không phải là sự giải thích gì cả đối với một sự kiện, khi mà tuyên bố rằng sự kiện ấy không thể giải thích được. Do vậy, nó là một lời kết luận mà không một lập luận nào có thể được dùng để biện giải.

Trở ngại triết lý cuối cùng trong hành trình nâng cao sự hiểu biết mà tôi muốn đề cập đến là hành động cho rằng quy luật này hay sự thật nọ đã khám phá ra công thức hoàn hảo cho chính nó – và đặc biệt là cho rằng lối đi thông thường của tự nhiên không bao giờ có thể bị xô lệch. “Hòn đá không từ trên trời rơi xuống,” Laplace nói, cho dầu mỗi ngày, chúng đều rơi xuống mặt đất lắm người này từ ngàn xưa. Nhưng không có loại suy luận nào làm cho lời phủ nhận tuyệt đối như thế về một hiện tượng bất bình thường có thể tin được, dù chỉ là một niềm tin nhỏ nhoi nhất.

Tất cả mọi lập luận cả quyết đều xuất phát từ hành động xét đoán một phần sự vật nằm trong một tập hợp toàn thể bằng cái phần được khám phá trong một vật mẫu nào đó. Do vậy, có ba điều mà chúng ta không bao giờ có thể hy vọng đạt được bằng lập luận; đó là, sự chắc chắn tuyệt đối, tính chính xác tuyệt đối, tính phổ quát tuyệt đối. Thậm chí, chúng ta hoàn toàn không thể chắc chắn rằng mọi kết luận của mình đều gần đúng; bởi vì vật mẫu có thể khác với bộ phận không được chọn làm mẫu của tập hợp. Chúng ta ngay cả cũng không thể giả vờ rằng mình có thể đúng, bởi vì vật mẫu chỉ bao gồm một số lượng xác định các trường hợp và chỉ thừa nhận giá trị đặc biệt của vật mẫu được nhắm tới. Cuối cùng, thậm chí nếu như chúng ta có thể khẳng định bằng một cách chắc chắn và chính xác tuyệt đối rằng tỷ lệ người phạm tội trong tất cả mọi người là 1:1, thì trong số nhiều thế hệ người bất định đó, vẫn có thể còn chỗ cho một số lượng xác định người vô tội mà không hề vi phạm đến tỉ lệ ấy. Trường hợp này cũng giống với trường hợp con bê bảy chân nào đó.

Nếu tính chính xác, tính chắc chắn và tính phổ quát không thể đạt được bằng lập luận, thì chắc chắn không thể vươn tới các đặc tính này bằng bất cứ phương tiện nào khác.

Có người sẽ gợi ý về sự mặc khải. Nhiều khoa học gia và những người chịu ảnh hưởng của khoa học thường cười chế nhạo sự mặc khải; và cố nhiên, khoa học đã dạy chúng ta nhìn vào bằng chứng bằng thứ ánh sáng rằng toàn bộ học thuyết thần học về “thực chứng” dường như quá yếu ớt. Tuy nhiên, tôi không nghĩ có thể bài bác, về phương diện triết lý, khả năng có thực của một sự mặc khải. Nhưng tôi vẫn cầu xin, với tư cách là một nhà luận lý học, được tuyên bố rằng chân lý mặc khải –nghĩa là chân lý không làm lợi cho ai, nhưng sự mặc khải thì được thực hiện cho một số cá nhân nào đó – đã tạo nên loại chân lý khó tin nhất hiện có. Ở đây, không có tính phổ quát, bởi vì tự thân sự mặc khải đã có tính chất huyền nhiệm và hiếm xảy ra. Cũng không có vấn đề về tính chính xác kiểu toán học, bởi vì không có sự mặc khải nào lại kỳ vọng vào đặc tính ấy. Nhưng nó vẫn cứ giả vờ là chắc chắn; và có ba điều phản đối rất thuyết phục dùng để chống lại điều này. Trước hết, chúng ta không bao giờ có thể hoàn toàn chắc chắn rằng mọi sự cứu rỗi định sẵn đều thực sự được tạo ra, bởi vì điều đó chỉ có thể được thiết lập bằng lập luận. Thậm chí, chúng ta cũng không thể chứng minh nó bằng mức độ có thể xảy ra. Thứ hai, ngay cả như nó, sự cứu rỗi, được tạo ra, chúng ta cũng không thể đoan chắc, hoặc hầu như đoan chắc, lời tuyên bố đó là đúng. Chúng ta biết rằng một trong những điều răn nằm trong một trong những cuốn thánh kinh được in mà lại không có từ không trong đó. Tất cả các vấn đề được tạo ra này đều phụ thuộc vào sự bóp méo và xuyên tạc của con người. Hơn nữa, chúng ta cũng không thể hiểu thấu các ý định của đấng Tối cao, hoặc tuyên bố bất cứ điều gì như là một nguyên tắc mà có thể chi phối cách hành xử của ngài. Chúng ta không biết các mục dích huyền bí của ngài, cũng như không hiểu được những dự tính của ngài. Chúng ta không biết gì cả, ngoài việc biết rằng có thể ngài đã quyết định mang những lầm lẫn đến cho tôi tớ của ngài. Thứ ba, sự thật mà dựa trên quyền năng linh hứng (authority of inspiration) chỉ là một cái gì đó bất khả tri nhận; và chúng ta không bao giờ có thể đoan chắc rằng mình có thể hiểu nó một cách đúng đắn. Khi không còn cách nào lẫn tránh những điều khó khăn này, tôi xin nói rằng sự mặc khải, điều khó làm cho chúng ta có thể tin chắc, đã đưa đến những kết quả ít chắc chắn hơn bất cứ nguồn thông tin nào khác. Ngay cả khi sự mặc khải trở nên giản dị hơn rất nhiều, thì mọi chuyện vẫn cứ như thế.

Nhưng người ta sẽ nói rằng bạn đã quên các quy luật được biết đến như là những định đề tiên nghiệm, những tiên đề hình học, những quy tắc luận lý, những quy luật nhân quả, và nhiều thứ tương tự khác. Tất cả chúng đều tuyệt đối đáng tin và chính xác, mà không hề có ngoại lệ. Đối với vấn đề này, tôi xin trả lời rằng, về phần tôi, dường như có một bằng chứng lịch sử xác đáng nhất cho thấy rằng chân lý hiển nhiên thường có tính chất không đáng tin và dễ gây nhầm lẫn, hơn thế nữa, không phải không có ngoại lệ. Bằng chứng lịch sử này, cố nhiên, không thể không sai lầm, nhưng rất vững chắc. Do đó, tôi hỏi bằng cách nào bạn biết rằng một chân lý tiên nghiệm là chắc chắn, không có ngoại lệ và hoàn toàn chính xác? Bạn không thể biết được điều đó thông qua sự lập luận. Bởi vì làm như vậy sẽ bị lệ thuộc vào tính khả biến và sự thiếu chính xác. Vậy thì, điều này chung quy lại chỉ là bạn biết nó như là một định đề tiên nghiệm; nói cách khác, bạn đưa ra những phán đoán có tính tiên nghiệm bằng chính giá trị của chúng, mà không cần phải có sự phê bình hay những cứ liệu. Đây là hành vi khép lại cánh cổng truy tầm tri thức.

À, nhưng người ta sẽ nói bạn đã bỏ quên kinh nghiệm trực tiếp. Kinh nghiệm trực tiếp không có tính chắc chắn và cũng không phải là không đáng tin, bởi vì nó không khẳng định điều gì cả — nó chỉ là nó, thế thôi. Có những ảo giác và mộng mị ở đây. Nhưng không có gì sai trái trong việc cho rằng những điều như thế thực sự đã xuất hiện, và kinh nghiệm trực tiếp đơn giản chỉ là một sự xuất hiện. Nó không liên quan gì đến lỗi lầm, bởi vì nó không chứng thực điều gì cả, ngoại trừ sự xuất hiện của chính nó. Cũng với lý do này, nó không mang đến tính chắc chắn. Nó cũng không chính xác, bởi vì nó vẫn còn quá mơ hồ; mặc dầu nó cũng không phải là không chính xác; nghĩa là, nó không là sự chính xác có tính cách giả tạo.

Tất cả những điều này đều đúng với kinh nghiệm trực tiếp tại lần lộ diện đầu tiên của nó. Nhưng khi nó đi đến giai đoạn bị phê xét, thì nó đã trôi qua, đồng thời được trình bày lại bằng ký ức. Đến lúc này, sự lừa gạt và tính thiếu chính xác của ký ức là những điều mà ai cũng biết.

… Khi đó, nói một cách tổng quát, không có cách nào để chúng ta có thể đạt tới sự tin cậy cũng như tính chính xác. Chúng ta hoàn toàn không bao giờ đoan chắc được bất cứ điều gì, cũng như không thể nào bảo đảm được giá trị đích xác của bất cứ tiêu chuẩn đánh giá hoặc tỉ lệ lượng định chung nào.

Đây là kết luận của tôi sau nhiều năm nghiên cứu tính hợp lý của khoa học; và đây cũng chính là kết luận mà nhiều người khác, những người có khả năng hiểu biết khác nhau, đã đi đến. Tôi tin mình được phép nói rằng không một quan điểm có thể đứng vững được liên quan đến sự hiểu biết của con người mà lại không dẫn đến hệ luận này. Cố nhiên, đây cũng chẳng phải là điều mới mẻ gì, và nhiều đầu óc phi thường nhất của mọi thời đại đã ủng hộ tính xác đáng của nó.

Quả thực, hầu hết mọi người đều thừa nhận nó cho đến khi anh ta bắt đầu nhận ra những phiền phức liên quan đến sự thừa nhận này—và thế là hầu hết những người ấy lại thối lui. Nó sẽ không được thừa nhận bởi những kẻ hoàn toàn không có năng lực suy tư. Nó cũng sẽ không được thừa nhận một cách trọn vẹn bởi những đầu óc kiêu ngạo chỉ được phát triển theo chiều hướng hành động và đã quen với việc quả quyết rằng mình không hề sai lầm trong nhiều vấn đề khác nhau. Những người này sẽ thừa nhận tính có thể sai lầm của mọi quan điểm một cách dễ dàng, nhưng với điều kiện phải có ngoại lệ cho riêng họ. Thuyết có thể sai lầm, ngoài ra, cũng sẽ bị phủ nhận bởi những kẻ e ngại các hệ quả của nó tác động đến khoa học, tôn giáo và luân lý. Nhưng tôi xin phép được nói với quý vị có đầu óc bảo thủ cao độ này rằng dẫu họ có thẩm quyền và có khả năng đến đâu đi chăng nữa trong việc điều hành các vấn đề của một giáo hội hoặc của công ty, họ cũng đừng nên điều hành khoa học theo lối ấy. Chủ nghĩa bảo thủ — trong ý nghĩa một chủ thuyết khiếp sợ hệ quả — hoàn toàn không thích hợp với khoa học, một lãnh vực, trái lại, luôn luôn tiến về phía trước nhờ những người cấp tiến và thuyết cấp tiến, trong ý nghĩa một chủ thuyết sẵn sàng đẩy các hệ quả vượt khỏi mọi giới hại thông thường. Tuy nhiên, không phải cái thuyết cấp tiến cả tin, mà là thuyết cấp tiến dám thực hiện các cuộc thử nghiệm. Không còn nghi ngờ gì nữa, thuyết có thể sai lầm sẽ tìm được người ủng hộ nơi những con người được tinh thần khoa học gieo vào một sinh lực tươi tắn.

Tuy nhiên, ngay cả một người như thế vẫn có thể hỏi phải chăng tôi muốn nói rằng sẽ không hoàn toàn chắc chắn về việc hai nhân hai là bốn – và thậm chí điều này có thể là không hoàn toàn chính xác. Đây là một sự hiểu lầm về thuyết có thể sai lầm khi cho rằng thuyết đó muốn nói hai nhân hai không thể có kết quả chính xác là bốn. Như tôi đã lưu ý, mục đích của tôi không phải là nghi ngờ việc người ta có thể đếm một cách chính xác. Thuyết có thể sai lầm cũng không nói rằng con người không thể có được một sự hiểu biết chắc chắn về những điều sáng tạo được chính đầu óc của họ hình thành. Nó không khẳng định, cũng như không phủ định, điều đó. Nó chỉ phát biểu rằng người ta không thể đạt được sự chắc chắn tuyệt đối về các vấn đề của sự kiện thực tế. Các con số chỉ là hệ thống các danh xưng do con người nghĩ ra để dùng vào mục đích đo đếm. Nói rằng có hai người trong một căn phòng nào đó; đây là một sự kiện thực tế. Nói rằng mỗi người có hai con mắt; đây là một sự kiện thực tế. Nói rằng có bốn con mắt trong căn phòng; đây cũng là một sự kiện thực tế. Nhưng nói rằng nếu có hai người và mỗi người có hai con mắt, thì sẽ có bốn con mắt, thì không là một câu nói về một sự kiện thực tế, mà là một câu nói về hệ thống các con số do chính chúng ta tạo ra.

_____________

[1] Một nhân vật quê mùa, mộc mạc trong truyện thơ Peter Bell, a Tale của William Wordsworth.

[2] Solomon August Andrée (1854 – 1897): nhà thám hiểm địa cực bằng khinh khí cầu người Thụy-điển.

17. phần II – Sự tác động của tư tưởng khoa học – Quan điểm

Khoa học hiện đại đã có những tác động to lớn đến đời sống và suy nghĩ. Không hề cường điệu khi nói rằng đây là đặc điểm đáng chú ý nhất trong một trăm năm vừa qua — kể từ năm ấn hành tác phẩm Origin of Species của Darwin, năm 1859, một sự kiện đã trở thành bước ngoặc của nhân loại. Trong suốt thời gian này, khoa học và kỹ thuật hiện đại đã cách mạng hóa cái thế giới mà chúng ta đang sống. Ngày nay, chúng ta chúng ta chấp nhận là bình thường đối với những biến cố mà có lẽ đã được coi là kỳ diệu bởi bất cứ một người ôn hòa nào từng sống trước đó một trăm năm; chúng ta cho là hiển nhiên đối với nhiều sự đổi thay mà không hề ý thức được ý nghĩa của chúng. Xã hội của chúng ta là một xã hội đô thị và kỹ nghệ, một xã hội của các thành phố lớn – có hàng tá thành phố trên thế giới với dân số lên đến ba hoặc bốn triệu người (một trăm năm mươi năm trước, thành phố New York chỉ có sáu chục ngàn dân). Sự sản xuất xe hơi hàng loạt, việc mà đòi hỏi các hệ thống xa lộ và siêu xa lộ được mở rộng không ngừng, đã biến chúng ta thành một xã hội di động; đồng thời, nó cũng gây ra tình trạng phiền toái triền miên trong việc tìm chỗ đậu xe. Lối sống của chúng ta không ngừng bị biến đổi do sự xuất hiện của phản lực cơ, năng lượng hạt nhân, bom khinh khí, và vệ tinh địa tĩnh – chuyện du hành ngoài không gian giờ đây đã không còn bị coi như là chuyện “khoa học viễn tưởng” nữa, đó là chưa kể đến những điều quen thuộc như truyền thanh và truyền hình, những thứ cung cấp cho chúng ta câu chuyện trọn vẹn của các biến cố ở khắp mọi nơi trên thế giới hầu như ngay khi chúng diễn ra.

Khoa học và nhân văn

Những đổi thay về vật chất này cũng có ý nghĩa như những đổi thay về phương diện tri thức, tôn giáo, luân lý và xã hội đi kèm theo đó; cái sau có sức lan tỏa mãnh liệt hơn cái trước, nhưng lại ít được nhận thấy hơn. Ngày nay, chúng ta thường nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa khoa học và nhân văn. Đứng vào vị trí của nhà nhân văn, chúng ta thường than phiền rằng trong thời chiến hoặc trong các cuộc khủng hoảng quốc gia, người ta đã chi nhiều tiền bạc và bỏ nhiều thời gian cho khoa học hơn là cho các lãnh vực nhân văn – trong khi rõ ràng là, ít nhất đối với chúng ta, làm điều ngược lại mới hợp lý. Tuy nhiên, mối tương quan thiết yếu giữa khoa học và nhân văn chắc chắn cũng mang nhiều ý nghĩa như sự khác biệt giữa chúng với nhau. Trong suốt một trăm năm qua, mọi lãnh vực nhân văn đều chịu sự tác động của các thành tựu và quan điểm khoa học — sự tác động ấy lớn cho đến nỗi ngành nhân văn mong muốn đối phó trực tiếp và triệt để với sự ảnh hưởng của khoa học đối với nó.

Cuộc sống ở thành thị, chẳng hạn, không còn là cuộc sống mà trong đó niềm tin luân lý truyền thống và niềm tin tôn giáo có thể phát triển. Trong xã hội kỹ nghệ và thành thị mà khoa học hiện đại đã tạo ra, nhiều vấn đề luân lý mới lạ và phức tạp đã nảy sinh. “Quan điểm khoa học”, tương tự như vậy, cũng có uy tín lớn hơn rất nhiều so với quan điểm của nhà thờ trong hầu hết các trường hợp. Khoa học gia thường có tiếng nói đầy uy thế trong tất cả các đề tài, đơn giản là bởi vì uy thế ấy xuất phát từ các thành quả khoa học của ông ta. Và cùng với sự ưu tư ngày càng lớn mạnh đối với sự phát triển to lớn mà các khoa học gia đã mang đến ở nước Nga, chúng ta hiện đang chứng kiến tầm quan trọng mới của khoa học đối với đất nước này, cái mà đem lại cho nó một uy tín lớn lao cho nó hơn bao giờ hết. Quả thực, cho đến gần đây, sự “thiếu khoa học” trong phương pháp tiếp cận bất cứ vấn đề quan trọng nào cũng đủ để tạo ra những mối hoài nghi, nếu không nói là không được thời đại khai sáng của chúng ta chấp thuận. Để thỏa mãn sự đòi hỏi này của tâm thức hiện đại, chúng ta đã có nhiều nỗ lực có sức thuyết phục trong nhiều thập kỷ vừa qua nhằm phát triển không chỉ một triết lý thuần khoa học, mà còn một nền luân lý khoa học, và thậm chí cả một “tôn giáo khoa học”, nếu như ý niệm này không là một sự mâu thuẫn về phương diện thuật ngữ.

Quan điểm khoa học

Trong ý nghĩa nào đó, chúng ta tin rằng hoàn toàn có thể coi “quan điểm khoa học” như là một quan điểm về đời sống con người và vũ trụ có nhiều nét dị biệt với các quan điểm đương thời khác. Ở đây, chúng ta không bận tâm nhiều đến việc minh định quan điểm về con người và thế giới này một cách chính xác theo kiểu “khoa học”, mà sẽ chú trọng đến việc làm sáng tỏ ý nghĩa của nó một cách đầy đủ và cụ thể, như nó được diễn tả bởi những người trình bày có năng lực nhất trong nhiều lãnh vực mà chúng ta trực tiếp quan tâm đến.

Các tư tưởng gia lỗi lạc đương thời như Bertrand Russell và Alfred North Whitehead đã không ngừng viết về sự tác động của khoa học hiện đại đối với triết học và tôn giáo. John Dewey, một triết gia Mỹ quốc có ảnh hưởng nhiều nhất của thế hệ chúng ta, quan tâm nhiều đến sự chi phối của phương pháp khoa học đối với triết học. Dewey, Russell và Max Otto đều đã vạch rõ những đổi thay có ý nghĩa trong luân lý được sản sinh bởi sự tác động của khoa học. Charles Sanders Pierce hiện đang được nhìn nhận như là một trong những triết gia hàng đầu của Mỹ có khả năng hiểu được quan điểm khoa học và nhìn thấy rõ ràng các hàm ý của nó. Trong thuyết thực chứng luận lý (logical positivism), chúng ta có thể nhận thấy một nỗ lực nhằm đồng nhất triết học với phân tích khoa học. Các ký giả có năng lực và sâu sắc như Walter Lippmann và Lincoln Barnett hiện đang thảo luận về cách thức mà trong đó sự tác động của khoa học đã chi phối triết lý, tôn giáo và luân lý của người bình dân. Đồng thời, Albert Einstein trình bày cho chúng ta ví dụ quan trọng nhất của tinh thần khoa học và thành tựu khoa học.

Trong suy nghĩ của những vị này, quan điểm khoa học trở nên có ý nghĩa và dễ dàng phân biệt. Chúng ta nhận ra các nguyên lý chính yếu mà những người chấp nhận quan điểm này có thể ưng thuận, cũng như là loại dị biệt mà một người có thể trông mong tìm thấy trong các cách nhìn của họ. Tương tự, những hàm ý của tư tưởng khoa học đối với các lãnh vực đời sống và tư tưởng khiến chúng ta băn khoăn — đối với luân lý và các định chế xã hội, đối với đức tin tôn giáo và giáo hội – đã trở nên rõ ràng.

Khoa học và Nghệ thuật

Trong các lãnh vực như văn chương, hội họa, âm nhạc và kiến trúc, sự tác động của khoa học không phải là quá lộ liễu, đồng thời cũng không dễ đối phó. Nhưng trong những lãnh vực này, sự ảnh hưởng của tư tưởng và thành tựu khoa học đã trở nên rộng khắp và không thể tránh được. Sau khi xem xét về quan điểm khoa học, chúng ta chuyển sang, một cách trực tiếp hơn, luận bàn về nghệ thuật khi mà chúng đã bị biến đổi và được định hình thông qua sự tác động của khoa học trong một trăm năm vừa qua. Ưu tư hàng đầu của chúng ta trong cuộc bàn luận này là mang đến một sự hiểu biết thấu đáo hơn về hội họa, văn chương, kiến trúc và âm nhạc đương thời. Nhưng chúng ta tin rằng cái nhìn sâu sắc như thế vẫn được một sinh viên trung bình tiếp nhận một cách mỹ mãn, không phải bằng sự nghiên cứu nghệ thuật tách biệt với phần còn lại của đời sống và tư tưởng – có nghĩa là, không phải bằng việc xem xét riêng biệt các nguyên lý và phương pháp thẩm mỹ — mà thông qua sự tìm hiểu các nguyên lý và phương pháp này khi chúng bị biến đổi bởi các tác động to lớn hơn đối với đời sống và người nghệ sĩ trong lúc sáng tạo.

Như vừa nói, trong số các tác động như thế suốt một thế kỷ vừa qua, không một tác động nào tỏ ra mạnh mẽ hơn tác động của khoa học. Do đó, chúng ta không hề ngạc nhiên khi thấy rằng công việc của những kiến trúc sư vĩ đại của thời đại chúng ta như Le Corbusier hay Walter Gropius đều bị chi phối bởi các thành quả của người kỹ sư và tầm nhìn của nhà toán học. Cũng không khó để chỉ ra rằng các thành quả có tính cách mạng ấy đối với ngành hội họa trong một, hai thế hệ vừa qua đã phản ánh sự ảnh hưởng của tư tưởng khoa học một cách rõ ràng như việc chúng đã phản ánh tài năng của các họa sĩ lớn liên quan trực tiếp đến chúng. Điều này cũng đúng, chẳng hạn như, với công việc của các họa sĩ theo trường phái ấn tượng của Pháp (như Monet và Pissaro) và Cézanne, người tiên phong của hội họa đương đại, và cũng đúng đối với Picasso, một họa sĩ mà trường phái lập thể của ông đã gây nhiễu loạn cho tính tự mãn truyền thống trong nghệ thuật hồi đầu thế kỷ này.

Trong văn chương và âm nhạc, sự ảnh hưởng của tư tưởng khoa học ít rõ ràng hơn, nhưng không phải là không có. Như một phê bình gia sâu sắc đã nhận định, “chủ nghĩa tự nhiên đang cố, một cách khá vụng về, áp dụng các phương pháp khoa học vào văn chương, và vào lãnh vực đặc biệt của nó, tiểu thuyết.” Trong văn chương, điều này đã dẫn đến việc quan sát hành vi con người bằng một thái độ bình thản và khách quan, và ghi nhận nó một cách trong sáng và chân thật. Nhà văn theo trường phái tự nhiên đứng ở một vị trí tách biệc và vô can, nóng lòng mô tả sự thật, dẫu cho sự thật ấy có thể là điều không dễ chịu, như tâm trạng của một khoa học gia trong phòng thí nghiệm của mình. Dù thái độ này hầu như không biểu lộ một tinh thần “nhân văn”, nhưng các nhà văn lớn người Pháp thế kỷ mười chín như Emile Zola và Guy de Maupassant, cũng như người Mỹ như Stephen Crane, Theodore Dreiser, và Ernest Hemingway của thế kỷ hai mươi đã cho thấy tầm ảnh hưởng quan trọng của một chủ nghĩa tự nhiên như thế đối với văn chương đương đại. Và dẫu thị hiếu văn chương của chúng ta ngày nay đã được nâng lên một tầm mức nào đó, thì sự tác động của các thành quả gần đây trong lãnh vực khoa học đối với cách nhìn của chúng ta về con người và đời sống nhân loại rõ ràng là vẫn được phản ánh trong các truyện ngắn xuất sắc như truyện ngắn của Stephen Vincent Benét, một tác phẩm được trình bày trong tập sách này.

Trong âm nhạc, trường phái tân cổ điển có thể được nhìn nhận như là một sự phát triển của một thể loại có thể so sánh được trong chừng mực nào đó. Chúng tôi đưa vào đây một số bài viết chọn lọc liên quan đến âm nhạc của các nhà soạn nhạc gần đây như Stravinsky, Prokofieff, Hindemith và Bartók, trong đó, các đặc điểm quan trọng của trường phái tân cổ điển sẽ được luận bàn và ý nghĩa tổng quát của nó sẽ được phân tích.

___________

16d. John Dos Passos – Kiến trúc sư

Vào một ngày oi bức cuối xuân năm 1887, một người thanh niên mười tám tuổi cao lớn, mắt sáng có khuôn mặt kiêu ngạo và điển trai đã đến Chicago với bảy Mỹ kim trong túi sau khi mua vé tàu đi từ Madison. Số tiền ấy có được là nhờ vào việc đem cầm cuốn Lives của Plutarch, cuốn Decline and Fall of the Roman của Gibbon và chiếc áo choàng cũ kỷ có cổ bằng lông thú.

Trước khi xa nhà để lập nghiệp trong một văn phòng kiến trúc sư (không có khóa học kiến trúc nào ở Winconsin làm rối tung đầu óc chàng bằng các họa tiết cổ điển nhàm chán), anh đã từng chứng kiến mái vòm của tòa nhà State Capitol mới xây ở Madison bị đổ sập vì đá kém phẩm chất của các cây cột; các nhà thầu gian dối đã cắt xén vật liệu để trả tiền “hoa hồng” cho các chính trị gia, và có lẽ có một sự tắc trách chết người nào đó trong bản thiết kế của kiến trúc sư;

Anh không bao giờ quên được tiếng đá rơi, tiếng vôi vữa bật tung, những đám bụi bay mịt mù, và những xác chết nát ngướu, khuôn mặt xám xịt vì bụi vữa.

Khi đi dạo phố ở Chicago, băng qua băng lại những chiếc cầu bắc ngang dòng sông Chicago giữa tiếng leng keng, lóc cóc của xe cộ, tiếng ầm ầm của xe tải và xe thồ hàng, tiếng chân của những con ngựa thồ, tiếng còi của tàu kéo xà lang và của tàu hơi nước đang chờ cầu kéo, anh nghĩ về lục địa to lớn trải dài hàng ngàn dặm từ tây xuống nam và ngược lên bắc này; và khắp mọi nơi, tại những bờ biển của các hải cảng vừa mới được nạo vét, dọc theo các dòng sông, ở những khu vực giao nhau của hệ thống đường ray xe lữa, đã mọc lên như nấm những căn lều tạm, nhà chứa đầu máy xe lữa, hầm mỏ, máy hút lúa, cửa hàng, nhà kho, căn hộ, biệt thự trên bãi cỏ rợp bóng cây dành cho người giàu có, tòa nhà nghị viện có mái vòm trên đồi cao, khách sạn, nhà thờ, nhà hát, phòng hòa nhạc.

Anh sải bước một cách háo hức về phía tương lai, một tương lai đang rộng mở cho những chàng trai biết gìn giữ đôi tay cho công việc và khối óc cho sự sáng tạo.

Và ngày hôm đó, anh kiếm được việc làm trong văn phòng của một vị kiến trúc sư.

Frank Lloyd Wright là cháu của người làm mũ và một vị mục sư xứ Wales đến định cư tại thung lũng Wiscosin giàu có, thung lũng Spring, và phải chăm lo cho một đại gia đình mà các thành viên là nông gia, mục sư và thầy giáo. Cha của Wright cũng là mục sư, một người New England kém thích nghi, từng học y khoa, từng giảng đạo trong một nhà thờ ở Weymouth, Massachusetts, rồi dạy âm nhạc. đọc tiếng Phạn và cuối cùng bỏ gia đình.

Wright chào đời trong nông trại của của tổ phụ, đi học ở Weymouth và Madison, vào mùa hè thì làm việc đồng áng tại nông trang của người chú ở Wisconsin.

Nghề kiến trúc mà ông có được là nhờ vào việc đọc sách của Viollet de Luc, bậc thầy về kiến trúc thế kỷ mười ba, về toán học xây dựng trong công trình đá Gothic, và nhờ vào bảy năm làm việc với Louis Sullivan trong văn phòng của Adler và Sullivan ở Chicago. (Chính Louis Sullivan là người, sau Richardson, sáng tạo ra tất cả những gì đã được sáng tạo trong lãnh vực kiến trúc thế kỷ mười chín tại nước Mỹ).

Trước khi Frank Lloyd Wright không còn làm việc với Sullivan, ông đã đưa ra một phong cách kiến trúc rất đặc biệt, phong cách kiến trúc thảo nguyên[1]. Tại Oak Park, ông xây một khu nhà ở ngoại ô dành cho người giàu, và công trình này được xem là những tòa nhà đầu tiên đã phá vỡ tầm ảnh hưởng của những lề thói kiến trúc tồn tại nhiều thế kỷ trong tâm trí của các nhà xây dựng Mỹ, đồng thời làm suy yếu sự chi phối của những chiếc cột, những đầu hồi chạm trổ trên các dãy cột hàng thế kỷ theo kiểu thành lũy Athen, và các khuôn mẫu truyền thống chán ngắt của các công trình La-mã, và các phương cách cũ rít chịu ảnh hưởng của kiến trúc sư Andrea Palladis.

Frank Lloyd Wright đang mở một con đường mới, con đường dẫn đến lối xây dựng nhanh gọn bằng vật liệu gạch, kính và thép.

Đó là những hình ảnh ban đầu của kiến trúc ngày nay.

Ông hài lòng khi sử dụng các vật liệu mới, dùng thép để chịu lực, dùng kính, dùng bê-tông, dùng nhiều kim loại và hợp kim mới.

Là con trai và cháu trai của hai nhà thuyết giáo, ông đã trở thành nhà thuyết giáo trong lãnh vực thiết kế, đã phóng hiện diện mạo xây dựng cho tương lai nước Mỹ, chứ không phải là quá khứ Âu châu.

Là người sáng tạo ra các phác đồ kiến trúc, là người bày ra hệ thống xà, dầm, ông đã thuyết giảng cho thanh niên đến tuổi trưởng thành trong thời đại áp bức, bị giam nhốt trong bốn vách ngăn của vấn đề tài chánh nhàm chán, rằng cuộc đời và các dự tính của họ đã bị làm cho suy kiệt bởi các khoản thuế khóa phong kiến của những kẻ ăn bám đang đứng dạng chân tại mọi lối đi nhằm tống tiền sự tiến bộ:

Những công dân có dáng bộ hết sức thành thị đã trở thành kẻ mối lái khi buôn bán các nhược điểm của con người, hoặc các ý tưởng và phát minh của người khác; đã trở thành người kéo cần số, người bấm nút, những kẻ chỉ có khả năng làm việc theo sự chỉ dẫn của người khác, những kẻ chỉ có thể làm việc nhờ vào máy móc,… và bên cạnh anh ta, bên dưới anh ta, thậm chí ngay bên trong trái tim mỗi khi anh ta ngủ, đều hiện diện chiếc đồng hồ tính tiền của xe taxi để thúc giục sự tranh đấu không ngừng của người khách hàng đầy âu lo nhằm ủng hộ hoặc chống lại, nhiều hay ít, nhân ái hay lạnh lùng, số tiền ngày càng gia tăng.

Đối với những thanh niên đang ngày đêm thảo những bản phác đồ kiến trúc cho những căn hộ cho thuê nằm úp trên mặt bằng lát đá, ông thuyết giảng về những đường chân trời của tuổi thơ ông, về một tương lai không phải là sự tăng một vài điểm trong một trăm cổ phiếu được chọn, hoặc sự gia tăng tải trọng của toa xe, hoặc của số tiền trong nhà băng, hoặc của mức độ tiền ký thác hoạt kỳ, mà là một ngành xây dựng trong sạch và mới mẻ từ dưới lên trên, dựa trên nhu cầu và công dụng đối với tương lai của nước Mỹ, thay vì nhắm tới dĩ vãng mờ tối của Âu châu và Á châu. Ông dùng từ Usonia để gọi dãi đất mênh mông của quốc gia mới của ông, một quốc gia chạy dài trên lục địa khổng lồ nằm giữa Đại tây dương và Thái bình dương. Ông thuyết giảng về dự án Usonia:

Dễ dàng nhận thấy sự phức tạp của việc xây dựng vị lợi thô thiển trong thời kỳ cơ khí phôi thai của tiến trình phát triển của chúng ta, tương tự như hệ thống giàn giáo thô thiển được dựng lên cho những tòa nhà tôn quý, đã xâm hại đến cảnh quan như thế nào…Cái mục đích thô thiển của thời kỳ tiên phong đã kết thúc. Đã có thể tháo dở giàn giáo, và công việc thực sự, tính văn hóa của một nền văn minh, phải được lộ diện.

Giống như cuộc đời của nhiều nhà thuyết giáo, nhà tiên tri và những người hô hào cho cái mới, cuộc đời của Frank Lloyd Wright cũng đầy sóng gió. Ông phải dưỡng dục con cái, cãi cọ với các bà vợ, vượt qua nhiều giới hạn, gặp rắc rối với luật pháp, ra tòa ly dị, phá sản; báo chí giật gân bám theo chân ông; những điều bất hạnh mà ông gánh chịu luôn luôn ầm ĩ qua các dòng tít trên các tờ báo buổi chiều: lăng nhăng với phụ nữ, vụ hỏa hoạn kinh hoàng xảy ra cho nhà của ông ở Wisconsin.

Trước sự mỉa mai kỳ lạ đó, tòa nhà Imperial Hotel ở Tokyo do ông thiết kế là một trong vài tòa nhà không bị hư hại sau vụ động đất năm 1923 (ông viết rằng ngày mà bức điện tín báo với ông rằng tòa nhà đó đã đứng vững và nhờ vậy đã cứu sống hàng trăm nhân mạng là ngày hạnh phúc nhất của ông.)

Và người Đức viết rằng hầu hết người Mỹ đều biết đến tác phẩm của ông.

Nhiều dự án kiêu kỳ của ông vẫn chưa thực hiện được. (Bao lâu một lần thì người thuyết giáo nghe được giọng nói của mình vọng lại từ sảnh đường trống không? Bao lâu một lần người vẽ bản thiết kế canh chừng những vệt bụi trên các bản vẽ đã được thực hiện cẩn trọng? Bao lâu một lần người kiến trúc sư nhìn thấy bản vẽ cuộn tròn sẽ ngã vàng và dòn vỡ trong tủ đựng hồ sơ?)

Ông đã hai lần xây lại ngôi nhà, nơi ông làm việc, ở thung lũng của tổ phụ tại Wiscosin, sau những cuộc hỏa hoạn và tai ương mà lẽ ra đã giết chết hầu hết những người trong đó.

Ông làm việc tại Wiscosin; một người đàn ông cao gầy tóc trắng, các con đều là kiến trúc sư, những người học việc từ khắp thế giới đến làm việc với ông để phác thảo một thành phố mới (ông gọi thành phố này là Broadacre City).

(Để mường tượng ra thành phố mới này, bạn phải xóa nhòa mọi thói quen của quá khứ, và xây dựng một quốc gia từ nền móng bằng các dụng cụ mới). Đối với kiến trúc sư, chỉ có một số công dụng sau đây:

sự gia tăng khó tin về công năng, sức bền và sức chịu lực của kim loại,

máy phát điện, cuộn dây, radio, tế bào quang điện, động cơ đốt trong,

kính,

bê tông;

và các nhu cầu. (Hãy nói cho chúng tôi, hỡi các vị tiến sĩ, cái gì là nhu cầu của con người. Ít nhất, người ta không cần bị cầm tù, bị sợ hãi, bị đói, bị lạnh, bị thiếu tình yêu)

Xây dựng một tòa nhà là xây dựng cuộc sống của người làm việc và người cư ngụ trong tòa nhà đó.

Các tòa nhà này sẽ thiết lập nền văn minh giống như là những ô tổ ong, những bổn phận của con ong.

Mặc dầu là một nhà thiết kế kiêu mạn, một kẻ đam mê bê-tông, người nghệ sĩ phóng túng dành cho các quý bà giàu có muốn trả tiền để có những căn nhà vượt trội thông qua sự thiết kế tỉ mỉ đáng kinh ngạc này đã buộc phải tuân theo tính hợp lý của công dụng và nhu cầu, bởi sự tranh đấu trọn đời nhằm chống lại sự kéo giật của đồng tiền để thiết kế những bản vẽ cần thiết cho việc thực hiện một đời sống mới;

Chỉ khi có tự do, chúng ta mới có thể xây dựng được một thành phố Usonia. Các bản thiết kế của Wright đang bước vào đời sống. Những bản vẽ của ông, như Walt Whitman có lần thốt lên, đã khuấy động thanh niên:

Frank Lloyd Wright,

Cha đẻ của lối xây dựng mới

Đã được vinh danh

Ngoại trừ trên chính đất nước của mình.

__________

[1] tạm dịch từ prairie architecture.

16c. John Dos Passos – Xe hơi rẻ tiền

“Ông Ford, vua xe hơi,” một nhà báo chuyên viết ký sự nhân vật đã viết như thế vào năm 1900,

Ông Ford, vua xe hơi, khởi đầu bằng cách thúc ba bốn cái thật dứt khoát vào con tuấn mã của mình với chiếc cần đặt phía bên phải chỗ ngồi; nghĩa là ông kéo chiếc cần lên và xuống, như ông nói, để hòa trộn không khí với xăng và đưa điện vào trong buồng nổ… Ông Ford nhả công tắc điện, và sau đó nghe phụt, phụt, phụt… Sự “phụt” của cổ máy bắt đầu nghe lớn hơn. Cỗ máy đang bay với vận tốc khoảng tám dặm một giờ. Vết lún trên mặt đường rất sâu, nhưng chắc chắn là cỗ máy đã lướt đi một cách êm ái như mơ. Không có sự va chạm nào với những chiếc xe đang đi trên đường… Cho đến lúc này, đã gặp đường lớn, và ông vua xe hơi gạt chiếc cần xuống một chút, lái cỗ máy ra đường. Nó nhanh chóng tăng tốc. Khi cỗ máy chạy, có tiếng kêu vang vang phía sau, âm thanh mới của xe hơi.”

Trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm, kể từ khi rời nông trại của cha lúc mười sáu tuổi, để đi làm trong một xưởng cơ khí ở Detroit, Henry Ford đã mê thích máy móc. Ban đầu là những chiếc đồng hồ. Sau đó, ông thiết kế máy kéo chạy bằng hơi nước, rồi chế tạo cỗ xe không cần ngựa kéo có gắn một động cơ chế tạo lại từ chiếc máy nổ hiệu Otto mà ông đã đọc được về nó trong tạp chí The World of Science; tiếp đến, ông làm một chiếc xe gắn động cơ một xy-lanh bốn thì; xe này chỉ chạy về phía trước, không chạy lui được.

Cuối cùng, năm 1898, ông cảm thấy đã đi đủ xa để có thể mạo hiểm bỏ công việc đang làm với công ty Detroit Edison, nơi ông đã đi lên từ công nhân đốt lò ban đêm thành kỹ sư trưởng, để dành hết thời gian cho việc chế tạo động cơ chạy bằng dầu mới.

(Cuối những năm 1880, ông đã gặp Edison tại một cuộc mít-tinh của công nhân làm bóng đèn điện tại thành phố Atlantic City. Ông liền đến gặp Edison sau khi Edison đọc một bài diễn văn và hỏi ông có nghĩ rằng dầu có thể được dùng làm nhiên liệu để chạy động cơ hay không. Edison đáp được. Nếu Edison nói như vậy, có nghĩa là điều đó đúng. Edison là thần tượng của Henry Ford.)

Và khi lái chiếc xe độc mã chạy bằng máy, ông ăn mặc thật tươi vui với chiếc áo jacket nhiều nút, cổ cao, đội mũ quả dưa, đi lại trên những con đường bằng phẳng của Detroit; tiếng nổ của động cơ làm kinh sợ những chú ngựa kéo xe.

Ông tìm những người đủ đãng trí để có thể đầu tư tiền bạc vào nhà máy chế tạo xe hơi.

Ông là con trưởng của một người đàn ông di cư Ái-nhĩ-lan. Khi xảy ra cuộc Nội chiến, người đàn ông này đã cưới con gái của một trại chủ Hà-lan giàu có vùng Pennsylvania và sinh sống bằng nghề nông gần Dearborn, hạt Wayne, Michigan;

Giống như nhiều người Mỹ khác, chàng Henry bắt đầu căm ghét quần áo bị ẩm ướt triền miên vì bùn lầy trong khi làm việc đồng áng, việc chuyên chở phân bón, lau chùi đèn dầu, và sự phiền toái, vất vã và hiu quạnh của trang trại.

Ông là một thanh niên mảnh khảnh, năng nổ, người chơi trượt băng giỏi, và rất khéo tay; điều ông thích là máy móc và thường để người khác làm các công việc nặng nhọc. Mẹ ông khuyên ông không được rượu chè, cờ bạc, hút sách, nợ nần, và ông không bao giờ phạm phải những điều đó.

Khi bước vào tuổi hai mươi, cha ông tìm cách buộc ông bỏ Detroit, nơi ông đang làm thợ máy cho công ty Drydock Engine, một công ty chế tạo động cơ cho tàu hơi nước, để quay về nhà bằng cách cho ông bốn mươi mẫu đất.

Chàng thanh niên Henry liền tự xây cất một ngôi nhà hình vuông màu trắng hiện đại có hai mái giả, cưới vợ và sinh sống trong trang trại.

Nhưng ông thuê người khác làm công việc của nông trang;

Ông mua chiếc cưa tròn, thuê một động cơ để xẽ gỗ.

Ông là một chàng trai tiết kiệm, không bao giờ rượu chè, hút sách, cờ bạc hay thèm muốn vợ của những người láng giềng; nhưng ông không thể chịu được cuộc sống nơi nông trại.

Ông liền chuyển đến Detroit, và sống trong một nhà kho xây bằng gạch phía sau căn nhà mà ông cho sửa chữa qua loa nhiều năm liền trong những khi rỗi rảnh; ở đó, có chiếc xe độc mã gắn động cơ gọn nhẹ để có thể chạy trên đường xe ngựa nện bằng đất sét ở hạt Wayne, Michigan.

Đến năm 1900, ông đã có một chiếc xe hơi có thể dùng được để quảng cáo.

Khi công ty Ford Motor khai trương và việc sản xuất bắt đầu khởi động, ông đã ngoài bốn mươi tuổi.

Tốc độ là yếu tố trước nhất mà các nhà sản xuất xe hơi đầu tiên quan tâm đến. Các cuộc đua sẽ quảng cáo cho thương hiệu của chiếc xe.

Chính Henry Ford đã giữ được một số kỷ lục trên đường đua ở Grosse Point và trên đường băng ở Lake St. Clair. Trong chiếc 999 của mình, ông chạy một dặm trong khoảng thời gian ba mươi chín giây bốn phần năm.

Nhưng thói quen của ông là luôn luôn thuê mướn người khác làm các công việc nặng nhọc. Tốc độ mà ông bận tâm đến chính là tốc độ trong sản xuất; những kỷ lục mà ông muốn đạt được là những kỷ lục trong sản lượng. Ông thuê Barney Oldfield, một vận động viên chạy xe đạp nhào lộn, chạy xe đua cho ông.

Henry For có nhiều ý tưởng về những việc khác hơn là về thiết kế động cơ, bộ chế hòa khí, máy magnet phát điện; ông có nhiều ý tưởng về việc buôn bán, một công việc mà số tiền lớn sẽ nằm trong việc sản xuất hàng loạt, sự luân chuyển hàng hóa nhanh chóng, các phụ tùng được tiêu chuẩn hóa giá rẻ và dễ dàng thay thế;

Chưa đến năm 1909, sau nhiều năm tranh cãi với các cộng sự, Ford đã cho ra đời chiếc xe Model T đầu tiên.

Henry Ford đã đúng.

Thời gian đó, ông đã bán được hơn mười ngàn chiếc xe hơi giá rẻ; mười năm sau, ông bán gần một triệu chiếc trong một năm.

Trong những năm tháng này, Kế hoạch Taylor đã làm xáo trộn các nhà quản trị nhà máy và nhà sản xuất trên khắp đất nước. Năng suất là mệnh lệnh của sản xuất. Sự sáng tạo trong việc cải thiện hiệu suất của một cỗ máy cũng sẽ cải thiện hiệu suất của người công nhân sản xuất ra cổ máy đó.

Năm 1913, dây chuyền sản xuất xe hơi được thiết lập tại nhà máy của Ford. Thời gian đó, lợi nhuận đã đạt đến con số hai mươi lăm triệu Mỹ kim, nhưng các nhà sản xuất đều gặp khó khăn trong việc giữ chân nhân công. Thợ máy dường như không thích việc sản xuất dây chuyền tại nhà máy của Ford.

Henry Ford có nhiều ý tưởng về những chuyện khác hơn là về chuyện sản xuất.

Ông là nhà sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới; ông trả lương cao; có lẽ nếu các công nhân nghĩ rằng họ đang bị cắt giảm (một sự cắt giảm rất nhỏ) trong lợi tức, thì khoản cắt gảm này được dùng để khích lệ các công nhân có tay nghề trung thành với công việc của họ.

Những công nhân có lương cao có thể để dành tiền mua một chiếc xe hơi giá rẻ; ngày đầu tiên khi Ford loan báo rằng những công nhân Mỹ có gia đình hợp pháp, nếu cần việc làm, sẽ có cơ hội kiếm được năm Mỹ kim một ngày (tất nhiên, luôn luôn có những điều kiện ràng buộc kèm theo), một đám đông khổng lồ chờ đợi bên nhoài nhà máy Highland Park.

Tất cả đều trở thành con số không trong đêm tháng Giêng đó; một cuộc bạo loạn xảy ra khi cổng nhà máy mở ra; cảnh sát đánh vào đầu, người đi tìm việc ném gạch đá; tài sản, tài sản của Henry Ford, đã bị phá hủy. Thám tử của công ty buộc phải mở vòi rồng để đẩy lùi đám đông.

Phương cách Mỹ quốc[1] (The American Plan); sự thịnh vượng của ngành xe hơi đang rò rĩ từ trên xuống dưới; hóa ra luôn luôn có những điều kiện ràng buộc đối với điều đó.

Nhưng năm Mỹ kim một ngày

Đã được trả cho những công nhân Mỹ lương hảo, những người không rượu chè, hút sách, đọc sách hay suy tư, những người không phạm tội ngoại tình, những người mà vợ của họ không được nhận vào chỗ trọ, những người mà một lần nữa đã làm cho nước Mỹ trở thành dòng sông Yukon của những công nhân bị bóc lột của thế giới; những người đã sản xuất ra tất cả những chiếc xe hơi giá rẻ này, những người đã tạo nên thời đại xe hơi, và một cách ngẫu nhiên, biến Henry Ford, ông vua xe hơi, người ngưỡng mộ Edison, trở thành người Mỹ vĩ đại vào thời đại của ông.

Nhưng Henry Ford có nhiều ý tưởng về những chuyện khác, bên cạnh các dây chuyền sản xuất và thói quen sinh hoạt của công nhân. Trong ông luôn tràn đầy các ý tưởng. Thay vì đi đến thành thị để làm giàu, ông lại là một chàng trai nhà quê làm giàu bằng cách mang thành thị về nông thôn. Từ những câu châm ngôn mà ông học được từ cuốn giáo khoa McGuffey’s Reader, từ những ý kiến lẫn định kiến của mẹ ông, ông đã gìn giữ những tờ tiền sạch sẽ và thẳng thóm như mới in trong két sắt của nhà băng.

Ông muốn mọi người hiểu biết về các ý tưởng của ông, cho nên ông đã mua tờ Dearborn Independent để phát động chiến dịch chống lại tệ hút thuốc lá.

Khi chiến tranh bùng nổ ở Âu châu, ông cũng đã có nhiều ý tưởng về sự kiện này. (sự ngờ vực của người lính và ciệc đi lính là một phần của truyền thống nông thôn miền trung tây, cũng như sự chừng mực, tính tiết kiệm và thói lừa lọc trong vấn đề tiền bạc). Bất cứ thợ máy người Mỹ khôn ngoan nào cũng có thể thấy rằng nếu Âu châu không có quá nhiều người dốt nát, không được trả lương đầy đủ, những người chè chén, hút sách, phóng đãng, và lãng phí trong phương pháp sản xuất, thì có lẽ chiến tranh đã không bao giờ xảy ra.

Khi Rosika Schwimmer chọc thủng hàng rào thư ký và nhân viên phục dịch đang vây quanh Henry Ford để đề nghị ông ngăn chặn cuộc chiến, ông đáp dĩ nhiên là được, nếu thuê một chiếc tàu đem các chàng trai ra khỏi chiến hào vào đêm Giáng sinh.

Ông thuê một chiếc tàu hơi nước, Oscar II, và chở những nhà hoạt động cho hòa bình và người làm công tác xã hội đến giải thích cho các ông hoàng của Âu châu rằng những gì họ đang làm đều xấu xa và xuẩn động.

Không phải lỗi của ông mà lương tri của Richard tội nghiệp không còn cai trị thế giới và hầu hết các nhà hoạt động cho hoa bình đều là những kẻ gàn dở, hoặc ngốc nghếch qua các dòng tít.

Khi William Jennings Bryan đến Hoboken để tiễn ông, có một người đã trao cho William Jennings Bryan một con sóc bị nhốt trong chiếc lồng; William Jennings Bryan đã đọc diễn văn cùng với con sóc trên cánh tay. Henry Ford tung những đóa hồng đẹp của nước Mỹ vào đám đông. Ban nhạc chơi bài I Didn’t Raise My Boy to Be a Soldier (Tôi Không Nuôi Con Tôi Trở Thành Người Lính). Những người thích đùa thả thêm nhiều con sóc nữa. Một đôi uyên ương chạy trốn để được sống bên nhau đã được nhóm mục sư trong hội trường cử hành hôn lễ, và ông Zero, người đến bến tàu muộn, đã lao xuống dòng North để bơi theo con tàu.

Chiếc Oscar II được mô tả như là một trại Chautauqua nổi; Henry Ford nói nó giống một ngôi làng miền trung tây, nhưng cho tới lúc họ đến Christiansand ở Na-uy, các phóng viên đã chế nhạo ông khiến ông cảm thấy lo sợ và liền đi nghỉ. Bên ngoài hạt Wayne, Michigan, thế giới quả là quá điên loạn. Bà Ford và ban quản đốc gửi một vị linh mục đến để bí mật đưa ông về nhà; vậy là các nhà hoạt động cho hòa bình đành phải đọc diễn văn mà không có sự hiện diện của ông.

Hai năm sau, công ty của Ford sản xuất đạn dược và tàu chiến hiệu Eagle; Henry Ford còn dự định sản xuất thiết giáp một người lái, tàu ngầm một người lái, giống như loại đã được thử nghiệm trong cuộc chiến giành độc lập của người Mỹ (Revolutionary War). Ông loan với báo giới rằng ông sẽ chuyển giao lợi nhuận chiến tranh cho chính phủ, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy ông đã làm điều đó.

Điều mà ông mang về sau chuyến đi là bản văn Protocols of the Elders of Zion. Ông khởi động một chiến dịch khai sáng thế giới trong tờ Dearborn Independent; người Do-thái là lý do khiến thế giới không còn được như hạt Wayne, Michigan, vào những ngày mà ngựa và xe độc mã còn được dùng đến.

Người Do-thái đã phát động chiến tranh. Người Do-thái đã mang lại chủ nghĩa Bolshevic, thuyết Darwin, chủ nghĩa Marx, Nietzsche, váy ngắn và son môi. Họ đứng đằng sau Wall Street và các chủ ngân hàng quốc tế, đằng sau các vụ buôn gái, phim ảnh, Tối cao Pháp viện, nhạc ragtime và buôn lậu rượu.

Henry Ford lên án người Do-thái, đồng thời tranh cử ghế thượng nghị sĩ và kiện tờ Chicago Tribune về tội phỉ báng, và trở thành trò cưới của báo giới đô thành;

Nhưng khi các chủ ngân hàng đô thành can thiệp vào công việc kinh doanh của ông hoàn toàn đi trước họ một bước.

Năm 1918, ông vay tiền để trả cho cổ đông thiểu số một khoản tiền nhỏ là bảy mươi lăm triệu Mỹ kim.

Tháng Hai năm 1920, cần tiền mặt để trả một phần món nợ này khi chúng đáo hạn. Một chủ ngân hàng đã đến gặp và đề nghị tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ông, nếu như một đại diện của ngân hàng được trở thành thành viên của hội đồng quản trị. Henry Ford đưa nón cho vị chủ ngân hàng, và bắt đầu kiếm món tiền đó theo cách của ông:

Ông vận chuyển tất cả xe và phụ tùng mà ông có trong nhà máy đến các đại lý và đòi họ thanh toán bằng tiền mặt ngay lập tức. Giao chuyện vay mượn cho người khác luôn luôn là phương châm hàng đầu. Ông ngừng sản xuất và hủy bỏ mọi đơn đặt hàng của các nhà cung cấp. Nhiều đại lý phá sản, nhiều nhà cung cấp thất bại, nhưng khi ông mở cửa nhà máy trở lại, ông làm chủ nó hoàn toàn.

Đó là cách mà một người làm chủ nông trại bị cầm cố bằng các khoản thuế đã được thanh toán xong.

Năm 1922 bắt đầu bằng sự kiện Ford vận động cho chức vụ tổng thống (lương cao, thủy điện, kỹ nghệ đến với tỉnh lẻ), sự kiện được thúc đẩy một cách khéo léo đằng sau hậu trường bởi một triết gia thẳng thắn và trung hậu, Calvin Coolidge;

Nhưng vào năm 1922, Henry Ford đã bán ra một triệu ba trăm ba mươi hai ngàn hai trăm lẻ chín chiếc xe hơi giá rẻ; ông trở thành người giàu nhất thế giới.

Nhiều con đường đã hằn vết bánh xe của chiếc Model T. Sự phát triển vĩ đại của xe hơi đang diễn ra. Tại nhà máy của Ford, việc sản xuất luôn luôn được cải tiến; ít lãng phí hơn, nhiều đốc công, phó đốc công và “chim mồi” hơn (mười lăm phút ăn trưa, ba phút đi vệ sinh, sự tăng nhanh tốc độ sản xuất theo phương pháp quản trị Taylor hiện diện khắp mọi nơi, cúi xuống, đặt gioăng, xiết bù-loong, cài chốt định vị, rồi cúi xuống, đặt gioăng, xiết bù-loong, cài chốt định vị, rồi lại cúi xuống… cho đến khi nào mọi khoảnh khắc của đời sống đều bị hút vào việc sản xuất, và đêm đến, người công nhân đi về nhà với thân xác kiệt quệ).

Ford làm chủ mọi chi tiết của chu trình này, từ các quặng mỏ trên đồi cho đến khi chiếc xe lăn ra khỏi công đoạn cuối cùng của dây chuyền sản xuất. Các máy móc thiết bị được hợp lý hóa một cách tối ưu.

Năm 1926, chu trình sản xuất được giảm xuống còn tám mươi mốt giờ, tính từ công việc ở quặng cho đến khi hoàn tất chiếc xe, nhưng chiếc Model T vẫn lỗi thời. Sự thịnh vượng của kỷ nguyên mới và phương cách Mỹ quốc (luôn có những điều kiện buộc ràng kèm theo) đã giết chết xe hơi giá rẻ.

Nhà máy của Ford giờ đây chỉ là một trong nhiều nhà máy sản xuất xe hơi khác.

Khi bong bóng thị trường chứng khoán bị vỡ, vị triết gia thẳng thắn và trung hậu của Ford mừng rỡ nói,

“Tôi đã bảo với anh như thế.

Anh thật đáng kiếp vì cờ bạc và nợ nần. Đất nước vẫn khỏe mạnh.”

Nhưng khi đất nước mang đôi giày bị rách, mặc chiếc quần đã sờn, xiết chặt thắt lưng quanh cái bụng rỗng, khi đôi tay nhàn rỗi bị nứt nẻ vì cái lạnh của ngày giá rét nhất vào tháng Ba năm 1932, khi đất nước bắt đầu tuần hành từ Detroit đến Dearborn đòi công việc, thì tại công ty của Ford, tất cả những gì mà người ta có thể nghĩ về là súng máy.

Đất nước vẫn khỏe mạnh, nhưng người ta đã thảm sát đoàn tuần hành.

Họ đã bắn chết bốn người.

Henry Ford, khi về già, là một người rất mê đồ cổ, (sống khép kín trong trang trại của thân phụ trong khu đất rộng hàng ngàn mẫu, được bảo vệ bởi một đội quân gồm những người phục dịch, thư ký, mật vụ, điềm chỉ viên dưới sự chỉ huy của một cựu võ sĩ người Anh; luôn luôn lo sợ những bàn chân mang đôi giày rách trên đường phố, luôn luôn sợ các băng đảng sẽ bắt cóc con cháu, sợ kẻ lập dị nào đó sẽ bắn mình, sợ sự đổi thay và những đôi tay nhàn rỗi sẽ đập phá cổng kín và tường cao; trang trại ấy được bảo vệ bởi một đạo quân tư nhằm chống lại một nước Mỹ mới của những trẻ em đói kém, của những chiếc bụng rỗng, của những đôi giày rách đang đứng trong dòng người chờ nhận phần súp, cái dòng người đã nuốt chửng các vùng đất thịnh vượng cổ kính của hạt Wayne, Michigan).

Henry Ford, khi về già, là một người rất mê đồ cổ.

Ông xây dựng lại gia trang của thân phụ và khôi phục lại diện mạo ngày xưa của nó như hồi ông còn bé. Ông xây dựng một ngôi làng gồm viện bảo tàng xe độc mã, xe trượt tuyết, xe ngựa bốn bánh, lưỡi cày, bánh xe nước, xe hơi kiểu cũ. Ông tìm khắp trong hạt những người chơi đàn violon để chơi những vũ điệu kiểu cũ.

Thậm chí ông còn mua nhiều quán rượu và khôi phục tình trạng nguyên thủy của chúng; ông cũng mua cả những phòng thí nghiệm đầu tiên của Edison.

Khi mua lữ quán Wayside gần thị trấn Sudbury, Massachusetts, ông làm cho xa lộ mới, nơi mà xe hơi đời mới gầm rống và luớt qua (âm thanh mới của xe hơi),

nằm cách xa cửa ngỏ vào thị trấn,

giống như những con đường cũ kỷ trước đây,

để cho mọi thứ có thể quay trở về ngày xưa,

những ngày của ngựa và xe độc mã.

___________

[1] Thường được giới chủ nhân ở Mỹ dùng vào những năm 1920 để mô tả chính sách không thương lượng với các nghiệp đoàn của họ.

16b. John Dos Passos – Ngài Veelson

Vào năm Buchanan được bầu làm tổng thống, thì Thomas Woodrow Wilson đã chào đời tại ngôi nhà ở Staunton nằm trong thung lũng Virginia, để làm con của con gái một vị mục sư giáo hội Trưởng lão; gia đình này vốn là người Ái-nhĩ-lan gốc Tô-cách-lan; người cha là mục sư giáo hội Trưởng lão, đồng thời là thầy giáo dạy về thuật hùng biện trong các trường thần học; gia đình Wilson sống trong một vũ trụ ngôn từ được hai thế kỷ của những nhà thần học Calvin kết hợp thành một bầu trời không thể chối cãi,

Thượng đế là ngôi Lời

Ngôi Lời là Thượng đế.

Tiến sĩ Wilson là người có địa vị, rất yêu thương gia đình, vợ con, sách vở, cú pháp chính xác, và hàng ngày thường trò chuyện với Chúa trong những buổi cầu kinh tại gia;

Ông dưỡng dục các con bằng kinh thánh và tự điển.

Vào những năm nổ ra cuộc Nội chiến, những năm của tiếng kèn, tiếng trống thúc quân, và của lửa đạn và những lời tuyên bố, gia đình Wilson sống ở Augusta, Georgia; Tommy là một cậu bé chậm chạp, không biết chữ cho đến khi lên chín; nhưng khi biết đọc, cuốn sách ưa thích là cuốn Cuộc đời Washington của Parson Weems.

Năm 1870, tiến sĩ Wilson được bổ đến dạy tại trường Thần học ở Columbia, South Carolina; Tommy theo học trường Davidson, nơi ông trở thành một ca sĩ giọng nam cao xuất sắc; rồi khi đến Princeton, ông trở thành nhà tranh luận và biên tập viên cho tờ Princetonian. Bài báo đầu tiên của ông được đăng trên tạp chí Văn học Nassau là một bài phê bình về Bismarck.

Sau đó, ông học luật tại đại học Virginia; chàng thanh niên Wilson muốn trở thành một người vĩ đại, giống như Gladstone và các nghị sĩ Anh quốc thế kỷ mười tám; ông muốn thu hút sự chú ý của các nghị sĩ bằng sự thật; nhưng nghề luật đã gây nhiều điều phiền toái cho ông; ông đã ở nhà thường xuyên hơn, để đắm mình trong không khí sách vở của thư viện, của giảng đường, của nhà nguyện đại học; ông cảm thấy khuây khỏa khi bỏ nghề luật ở Atlanta để nhận một học bổng nghiên cứu sử học tại đại học Johns Hopkins; nơi đây, ông đã viết Congressional Government.

Năm hai mươi chín tuổi, ông cưới một người phụ nữ yêu thích hội họa làm vợ (khi chinh phục nàng, ông đã hướng dẫn nàng cách phát âm nguyên âm “a” kéo dài) và dạy Lịch sử và Kinh tế chính trị cho các nữ sinh trường Bryn Mawr. Khi lấy được bằng tiến sĩ của đại học Johns Hopkins, ông đến làm giáo sư tại đại học Wesleyan, viết báo và khởi soạn một cuốn lịch sử Mỹ quốc; ông đã không ngừng bước lên tất cả các nấc thang trong sự nghiệp giáo dục; năm 1901, ban quản trị đại học Princeton đã trao cho ông chức hiệu trưởng.

Lập tức ông lao vào việc cải tổ đại học, điều này mang đến cho ông nhiều bằng hữu nhiệt thành cũng như không ít kẻ thù hung hãn, và đặt khuôn viên đại học vào tình trạng bất hòa;

Thế là người Mỹ bắt đầu tìm thấy trên trang nhất các tờ báo cái tên Woodrow Wilson.

Năm 1909, ông đọc hai bài diễn văn về Lincoln và Robert E. Lee.

Năm 1910, giới chủ thuộc phe Dân chủ của bang New Jersey, khi gặp nguy khốn trước các phóng viên điều tra và những nhà cải cách, đã hiểu rõ phải đề cử chức thống đốc cho vị hiệu trưởng trong sạch này, người đã thu hút cử tọa bằng hành động bênh vực công khai cho lẽ phải.

Khi đọc diễn văn trước hội nghị Trenton, hội nghị đã đề cử ông vào chức thống đốc, ông Wilson đã thổ lộ sự tin tưởng của mình vào người bình dân (giới chủ tỉnh lẻ và những chính trị gia tư lợi nhìn nhau gãi đầu; ông tiếp tục phát biểu, giọng nói càng trở nên cả quyết:

Đó là người mà chắc chắn rằng tôi ao ước được dẫn dắt bởi sự xét đoán của anh ta, để cho mỗi khi trách nhiệm trở nên nặng nề và mỗi khi thời điểm mà mọi người cảm thấy hoang man và xuống tinh thần xuất hiện, thì chúng ta có thể hướng mắt nhìn lên các ngọn đồi từ thung lũng tối tăm này, nơi mà các vách đá đặc quyền đã che phủ và làm mờ khuất lối đi của chúng ta, nơi mà mặt trời chỉ lập lòe sáng trên con đướng lớn bên các vách đá nhấp nhô, mặt trời của Thượng đế, mặt trời ấy muốn phục hưng con người; mặt trời ấy muốn giải thoát con người khỏi cuồng si và tuyệt vọng, nâng chúng ta đến những miền cao, miền đất hứa của mọi người, những kẻ khao khát tự do và thành đạt.

Giới chủ tỉnh lẻ và những chính trị gia tư lợi nhìn nhau gãi đầu; sau đó, họ chúc mừng; Wilson đã đánh lừa được những gã hợm mình, bội phản giới chủ, và được bầu bởi một đa số áp đảo;

Ông rời Princeton, khi cuộc cải tổ ngôi trường này vẫn còn dang dở, để trở thành thống đốc bang New Jersey.

và hòa giải với Bryan.

Tại bữa cơm tối nhân dịp lễ Jackson: khi Bryan nhận xét, “Cố nhiên, tôi biết rằng ông không đứng cùng với tôi trong địa vị hiện thời của tôi,” Wilson liền đáp, “Tất cả những gì tôi có thể nói là, thưa ông Bryan, ông là một người vĩ đại.”

Ông được giới thiệu với đại tá House, một phù thủy chính trị, kẻ đang chăng các mạng lưới của mình tại khách sạn Gotham.

Và tại cuộc hội nghị ở Baltimore tháng bảy kế tiếp, kết quả trò múa rối do Hearst và House dàn dựng phía sau hậu trường cho các đại biểu là Woodrow Wilson được đề cử tranh cử chức vụ tổng thống.

Sự từ chối ủng hộ của đảng Cấp tiến ở Chicago chuyển từ Taft sang Theodore Roosevelt khiến cho sự đắc cử của Wilson trở nên chắc chắn;

Thế là ông lại rời New Jersey để bước vào tòa Bạch cung khi cuộc cải tổ tiểu bang này vẫn còn dang dở.

Vị tổng thống thứ hai mươi tám của chúng ta.

Trong khi Woodrow Wilson đi trên đại lộ Pennsylvania bên cạnh Taft, người khi còn là tổng thống đã vô hiệu hóa các nỗ lực phản động của Theodore Roosevelt trong việc đặt sự kinh doanh vào tầm chi phối của chính phủ, thì J. Pierpont Morgan đang ngồi chơi bài trong văn phòng ở Wall Street, hút một ngày hai mươi điếu xì-gà đen và nguyền rủa các trò hề của nền dân chủ.

Wilson phê phán đặc quyền đặc lợi, khước từ nhìn nhận chính phủ Huerta và đưa lực lượng dân quân đến Rio Grande để thi hành một chính sách có tính chất cảnh giác. Ông cho xuất bản tác phẩm The New Freedom và đích thân gởi các thông điệp của mình đến quốc hội, giống như vị hiệu trưởng đọc diễn văn trước phân khoa và sinh viên. Tại thành phố Mobile, ông nói:

Tôi muốn nhân dịp này nói rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ tìm kiếm thêm một tấc đất nào bằng sự xâm lược;

Và ông đã đổ thủy quân lục chiến vào vịnh Vera Cruz.

Chúng ta đang chứngkiến một sự phục hưng của tinh thần quan tâm đến lợi ích chung, một sự thức tỉnh của quan niệm đúng đắn, một sự hồi sinh của quyền lực dân chúng, một sự khởi đầu của thời kỳ tái thiết…

Nhưng thế giới đã bắt đầu quay cuồng quanh Sarajevo.

Ban đầu, chính thái độ trung lập trong tư tưởng và hành động, và kế tiếp là sự hãnh tiến quá mức để có thể chiến đấu khiến cho sự kiện tàu khách Lusitania bị đánh chìm, nguy cơ đối với các khoản tín dụng của Morgan và các câu chuyện của các nhà tuyên truyền Anh – Pháp đã buộc tất cả các trung tâm tài chánh ở miền đông kêu đòi chiến tranh; nhưng sức hút của tiếng trống và súng đạn quá mạnh; nhiều người đã đem thời trang ra khỏi Paris, âm “a” kéo dài ra khỏi Luân-đôn, khỏi Theodore Roosevelt và ngân hàng của Morgan.

Năm tháng sau khi tái đắc cử qua khẩu hiệu tranh cử Ông giữ chúng ta thoát khỏi cuộc chiến, Wilson đưa dự luật Armed Ship Bill (dự luật cho phép vũ trang cho thương thuyền như tàu chiến) cho quốc hội, đồng thời tuyên bố rằng tình trạng chiến tranh đã tồn tại giữa Hoa Kỳ và phe Trục:

Sử dụng vũ lực không giới hạn, sử dụng vũ lực tối đa.

Wilson trở thành nhà nước (chiến tranh là sức khỏe của nhà nước), Washington trở thành điện Versailles của ông; ông củng cố chính phủ được xã hội hóa bằng số Mỹ kim mà nhiều người kiếm được từ các đại công ty, và tổ chức một đoàn người vận chuyển đạn dược, hàng hóa, thuốc men và xe vận tải đến nước Pháp. Năm triệu người đứng nghiêm bên ngoài doanh trại khi hát bài The Star Spangled Banner.

Chiến tranh đã mang lại ngày làm việc tám giờ, quyền đầu phiếu của phụ nữ, luật cấm rượu, luật phán xử bó buộc trong tranh chấp lao động, tiền lương nhân công cao, lãi suất cao, hợp đồng “giá phí cộng với lợi nhuận”[1], sự xa hoa của việc trở thành một Người Mẹ Sao Vàng[2].

Nếu bạn phản đối việc làm cho thế giới được an toàn vì nền dân chủ “giá phí cộng với lợi nhuận”, bạn sẽ đi tù với Debs[3]

Tấn tuồng kết thúc hầu như quá sớm, ông hoàng Max von Baden khẩn nài Kế hoạch Mười bốn điểm, Foch đang chiếm đóng các đầu cầu trên sông Rhine và hoàng đế nước Đức đội mũ lụa đang chạy hụt hơi để đuổi kịp chuyến hỏa xa ở sân ga Potsdam, một số người còn nói rằng ông đeo râu giả.

Với sự giúp đỡ của Thượng đế toàn năng, lẽ phải, sự thật, công lý, tự do, dân chủ, của quyền tự quyết của các quốc gia, của giải pháp không bồi thường không thôn tính, của đường Cuba, măn-gan Cáp-ca. lúa mì Tây bắc, bông vải Dixie, sự phong tỏa của Anh quốc, của tướng Pershing, của taxi Paris và của súng đại bác bảy mươi lăm ly,

Chúng ta đã thắng cuộc chiến.

Vào ngày 4 tháng Mười hai năm 1918, Woodrow Wilson, vị tổng thống đầu tiên rời khỏi lãnh thổ Hoa Kỳ trong suốt nhiệm kỳ tổng thống, đã đến Pháp trên chiếc hải thuyền George Washington, nhân vật có uy quyền nhất trên thế giới.

Tại Âu châu, người ta biết xăng có mùi như thế nào, và mùi tử khí của những xác chết được chôn quá nông, và màu da tái mét của trẻ con chết đói; họ đọc trên báo rằng ngài Veelson ủng hộ hòa bình và tự do, và đóng hộp hàng hóa, bơ và đường;

Sau chuyến hải hành gian nan trên tàu George Washington, ông cập cảng Brest cùng với đoàn tùy tùng gồm các chuyên viên và ký giả.

Nước Pháp anh hùng đã hiện diện nơi đó với những bài diễn văn, ca đoàn học sinh, các vị thị trưởng với thắt lưng bằng khăn đỏ. (Không biết ngài Veelson có trông thấy hiến binh đang đẩy lùi cuộc tuần hành của công nhân bến cảng, những kẻ cầm cờ đỏ đến gặp ông?)

Tại nhà ga Paris, từ xe lữa, ông bước xuống thảm đỏ đưa đến chiếc Rolls Royce, giữa những hàng cọ, mũ lụa, đoàn quân danh dự. (Không biết ngài Veelson có trông thấy những người phụ nữ áo đen, những người thương tật ngồi trên xe lăn, những khuôn mặt xanh xao lo lắng dọc hai bên đường? Không biết ngài có nghe thấy sự thống khổ trong những tiếng hoan hô thúc giục ngài cùng với phu nhân đến khách sạn Murat, nơi mà trong các gian phòng đầy ắp gấm thêu, đồng hồ mạ vàng, tủ cẩn ngà voi và tranh thếp vàng, dãy phòng dành cho tổng thống đã được chuẩn bị?)

Trong lúc các chuyên viên đang thu xếp thủ tục cho cuộc hội nghị hòa bình, đang trải bàn bằng khăn xanh, đang xếp đặt các nghi thức, gia đình Wilson đi một vòng để xem xét tình hình: vào ngày sau lễ Giáng sinh, họ được chiêu đãi tại điện Buckingham; vào dịp năm mới, họ đến thăm giáo hoàng và hoàng đế nước Ý tại Quirinal. (Không biết ngài Veelson có biết rằng trong những ngôi nhà bẩn thỉu vì chiến tranh bên dòng sông Brenta và Piave, người nông dân đang thắp nến trước bức ảnh của ngài, bức ảnh được cắt ra những tờ họa báo?) (Không biết ngài Veelson có biết rằng người dân Âu châu đã biểu thị sự thách thức trước sự đàn áp xuất phát từ kế hoạch Mười bốn điểm, cũng như hàng thế kỷ trước đây họ đã từng biểu thị sự thách thức trước sự đàn áp xuất phát từ chín mươi lăm điểm mà Martin Luther đóng đinh vào cửa nhà thờ ở Wittenberg?)

Ngày 18 tháng Giêng năm 1919, giữa hàng quân phục, mũ ba góc không vành, dãi viền vàng, huân chương, dây ngù, công trạng bội tinh và tước hiệu hiệp sĩ, các bên ký kết, phe đồng minh và các thế lực liên quan đã gặp nhau tại phòng tiếp tân Salon de l’Horloge của bộ Ngoại giao Pháp để tuyên bố hòa bình, nhưng cuộc họp quan trọng của hội nghị hòa bình lại quá công khai để có thể đưa vấn đề hòa bình vào. Cho nên các bên ký kết đã thành lập một Hội đồng Mười bên, và bước vào phòng Gobelin, trên tường có treo bức History of Marie de Medici của Ruben, để tuyên bố hòa bình.

Nhưng Hội đồng Mười bên vẫn quá công khai để có thể đưa vấn đề hòa bình vào, cho nên họ liền thành lập Hội đồng Bốn bên.

Orlando bực tức bỏ về. Vậy là còn ba bên:

Clemenceau,

Lloyd George,

Woodrow Wilson.

Ba ông già đổi bài

Và chia các lá bài:

Đồng bằng sông Rhine, thành phố Danzig, hành lang Ba-lan, sông Ruhr, quyền tự quyết của các nước nhỏ, tiểu bang Saar, Hội quốc liên, sự ủy trị, chiến dịch Mespot, Tự do hàng hải, vùng bờ đông sông Jordan, Sơn đông, thành phố Fiume và đảo Yap:

Súng máy và hỏa hoạn

Nạn đói, chấy rận, bệnh dịch tả, bệnh sốt Rickettsia;

Dầu mỏ là lá bài chủ.

Woodrow Wilson tin vào Chúa của cha ông, cho nên ông đã nói với giáo dân Tin lành trong nhà thờ đường Lowther, thành Carlisle nước Tô-cách-lan, nơi mà tổ phụ của ông từng thuyết giáo, vào một ngày giá lạnh rằng tất cả những người ký giả đang ngồi trên các băng ghế cũ đừng cởi áo khoác ra.

Ngày 7 tháng Tư, ông ra lệng cho tàu George Washington đang cập ở cảng Brest chuẩn bị đưa phái đoàn Hoa Kỳ về quê nhà:

Nhưng ông đã không đi.

Ngày 19 tháng Tư, hai tay chơi bạc lận Clemenceau và Lloyd George đưa ông vào trò chơi bài ba lá mà họ gọi là Hội đồng Bốn bên.

Ngày 28 tháng Sáu, Hiệp ước Versailles đã sẵn sàng

Và Wilson phải quay về nhà để giải thích cho các chính trị gia, những người đã kéo bè kéo phái để chỉ trích ông trong lúc đó ở Thượng viện và Hạ viện, cho công luận tỉnh táo và cho Chúa của cha ông tại sao ông đã để cho mình bị lừa gạt và đã kiến tạo hòa bình cho thế giới đến mức độ nào, vì nền dân chủ và chính sách Tân tự do.

Từ ngày đặt chân đến Hoboken, ông đã đặt tòa Bạch cung vào tình thế hết sức khó khăn, khi diễn thuyết để cứu vãn niềm tin của ông vào lời nói, khi diễn thuyết để cứu vãn niềm tin của ông vào Hội quốc liên, khi diễn thuyết để cứu vãn niềm tin của ông vào chính ông, vào Chúa của cha ông.

Ông đã kéo căng trí não, tận dụng mọi tổ chức chính phủ nằm trong sự chi phối của mình; (nếu bất cứ ai không đồng ý rằng ông là kẻ lừa đảo hoặc kẻ theo phe “đỏ”, thì đều không thể tha thứ cho Debs).

Tại Seatle, những người do dự mà những vị lãnh đạo của họ đang nằm trong nhà giam, tại Seatle, những người do dự mà những người lãnh đạo của họ đã bị thủ tiêu, bị bắn gục như con chó, tại Seatle, những người do dự xếp hàng thành bốn dãy khi Wilson đi ngang qua, đã khoanh tay đứng im lặng nhìn trừng trừng vào kẻ cấp tiến vĩ đại khi ông bị giục vào xe hơi, ngồi co ro trong chiếc áo bành tô, phờ phạc vì mệt mỏi, một bên mặt đang co rúm lại. Những người đồ bảo hộ lao động, những kẻ cần lao đã để cho ông đi qua trong im lặng, sau khi tất cả những lớp người khác hoan hô và reo hò.

Tại Pueblo, ông đã là một người già yếu, hầu như không thể đứng được, một bên mặt của ông co rúm lại:

Vì màn sương che phủ vấn đề trọng đại này đã bị xua đi, tôi tin rằng con người sẽ nhìn thấy sự thật. Có một điều mà dân tộc Mỹ luôn luôn vướn tới và luôn luôn mở rộng vòng tay đón nhận, đó là: sự đúng đắn của công lý, của tự do và của hòa bình. Chúng ta đã chấp thuận sự thật đó và chúng ta sẽ được điều đó dẫn dắt, và nó sẽ dẫn dắt chúng ta — và thông qua chúng ta, dẫn dắt thế giới — bước vào những vùng đất thanh bình mà thế giới chưa bao giờ mơ thấy trước đây.

Đó là bài diễn văn sau cùng của ông;

Trên chuyến xe lữa đến Wichita, ông bị đột quỵ. Ông đã hủy bỏ chuyến đi diễn thuyết dự định sẽ diễn ra trên toàn quốc để vận động cho Hội quốc liên. Sau đó, ông trở thành người bại liệt và chỉ có thể nói được mà thôi;

Ngày mà ông từ chức tổng thống để giao chức vụ ấy lại cho Harding, ủy ban hỗn hợp thượng viện và hạ viện đã chỉ định Henry Cabot Lodge, kẻ thù truyền kiếp của Wilson, thực hiện lời kêu gọi chính thức tại văn phòng cơ quan hành pháp nằm trong trụ sở quốc hội để đặt vấn đề liệu tổng thống đã đưa ra thông điệp nào cho quốc hội tại phiên họp khoáng đại hay không;

Tỳ vào thành ghế một cách đau đớn, Wilson cố gắng đứng dậy, nói: “Thưa ngài thượng nghị sĩ Lodge, tôi không còn lời nào để nói, cảm ơn… xin chào ngài.”

Ông qua đời ngày 3 tháng Hai năm 1924.

___________

[1] tạm dịch “cost-plus-contract”.

[2] Gold Star Mother: ngay sau đệ nhất Thế chiến, Hội Gold Star Mothers được thành lập để giúp đỡ những người mẹ co con hy sinh cho nước Mỹ. Sở sĩ gọi là Gold Star Mothers là vì, theo tập quán, những gia đình có con phục vụ quân đội thường treo trước nhà mình một lá cờ có đính ngôi sao. Tổng số ngôi sao thể hiện số người con đang tòng ngũ. Ngôi sao màu xanh tượng trưng cho người còn sống, và màu vàng cho người đã hy sinh.

[3] Eugene V. Debs (1855 – 1926): nhà lãnh đạo chính trị và lao động người Mỹ, một trong những sáng lập viên của Liên đoàn Lao công Quốc tế.

16a. John Dos Passos – Hoa Kỳ

Giới thiệu:

John Roderigo Dos Passos thuộc về một thế hệ có quan điểm xã hội bị chi phối do hoạt động binh nghiệp trong cuộc đệ nhất Thế chiến. Ông sinh năm 1896 tại Chiacago và là con của một người gốc Bồ-đào-nha giàu có. Thuở còn thơ, cùng với gia đình, ông đã sinh sống ở Mexico, Bỉ, và Anh quốc. Ông tốt nghiệp đại học Harvard năm 1916, thời điểm mà ông bị đẩy vào cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất. Sau chiến tranh, ông chu du nhiều nơi ở Tây-ban-nha và vùng Cận Đông và đã ghi chép lại những điều đã trải qua trong tác phẩm Orient Express (1921). Three Sodiers (1921), cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, bằng bút pháp hiện thực chủ nghĩa, đã khắc họa hậu quả bi thảm của chiến tranh đối với ba người lính có bối cảnh xuất thân khác nhau. Bốn năm sau đó, trong Manhattan Transfer, Dos Passos đã đưa ra một bức chân dung đầy ấn tượng về thành phố New York giữa những năm 1920, miêu tả nhịp sống hối hả, sự hỗn loạn và những va chạm đổ vỡ trong mọi khía cạnh đời sống của con người. “Tác phẩm bộ ba”U.S.A. (Hoa kỳ), tác phẩm mà chúng ta trích giới thiệu dưới đây, thoạt tiên được xuất bản thành ba cuốn tiểu thuyết riêng biệt, The 42nd Parallel (1930), 1919 (1931) và The Big Money (1936).

Vào những nắm tháng này, Dos Passos trở nên gắn bó với nhiều phe nhóm cấp tiến khác nhau trong nỗ lực thể hiện sự bênh vực dành cho người yếu thế, đồng thời bày tỏ hành động phản kháng tích cực trước những điều bất công. Ông đã bị bắt giam trong một thời gian ngắn, cùng với Edna St. Vincent Millay và Michael Gold, khi thay mặt Sacco và Vanzetti tham gia vào một cuộc biểu tình. Tuy nhiên, giống như nhiều người Mỹ lý tưởng khác, ông đã vỡ mộng về triết lý tả phái trong những năm 1930, để rồi từ đó trở thành người chống chủ nghĩa cộng sản một cách nhiệt thành. Trong những năm gần đây, ông sống lặng lẽ ở Cape Cod và Westmoreland County, Virginia, và viết lách với một phong thái ung dung.

U.S.A. của Dos Passos độc đáo cả trong bút pháp lẫn hình thức. U.S.A một bức tranh toàn cảnh lột tả và phê bình chân xác về đời sống Mỹ quốc từ đầu những năm 1900 cho đến thời kỳ Đại suy thoái của những năm ba mươi, U.S.A. Mặc dầu có nhiều nhân vật xuất hiện và biến mất trong nhiều bối cảnh, những nhân vật mà thân phận của họ đã trở nên cuộn chặt vào nhau, nhưng nhân vật chính đích thực vẫn là Xã Hội. Đời sống hiện đại, theo cách nhìn của Dos Passos, mang nhiều đặc tính tập thể hơn là cá nhân; về căn bản, con người không phải là người hùng cũng như chẳng hề là kẻ nô lệ, nhưng hầu như đều chịu sự chi phối của dòng chảy xã hội.

Câu chuyện trong U.S.A thỉnh thoảng được xen vào bằng một số thông tin có tính chất tài liệu nào đó: những phần gọi là “phim thời sự” được hình thành từ các mẩu diễn văn, dòng tít của tờ báo và ca từ của nhiều bát hát phổ biến; tất cả đều được xếp đặt, vận dụng theo một phương cách đáng đầy ấn tượng. Những cái này đều được chọn lọc nhằm khơi gợi không khí của một thời đại. Những phần gọi là “góc nhìn của ống kính” mang lại cảm giác bán-tự-truyện và được trình bày theo phong cách tiểu thuyết “dòng ý thức”. Đó chính là bút pháp tiêu biểu của Dos Passos. Các phần chính yếu của cuốn tiểu thuyết, những phần mà chúng ta trích dẫn, có thể được gọi là “tiểu sử.” Chúng mang đến nhiều câu chuyện ngắn gọn về các nhân vật nổi tiếng của công chúng, đồng thời nhấn mạnh một vài trong số các vấn đề xã hội quan trọng nhất của thời đại. Văn phong trong tác phẩm là một dạng thơ tự do với nhiều dòng “đứt quãng” nhằm tạo ra sự thi vị.

________________

Chàng trai một mình bước nhanh qua đám đông và chìm dần vào đường phố ban đêm; đôi chân đã mõi mệt sau hàng giờ đi bộ; đôi mắt đòi những đường nét nồng ấm của khuôn mặt, những ánh nhìn đáp lại, cử chỉ gật đầu, hành động vươn vai, cái cách đôi bàn tay xòe ra rồi khép lại; dòng máu trong huyết quản sôi lên; tâm trí đầy ắp những hy vọng, giống như tổ ong đang vo ve, châm chích; từng thớ thịt đau căng, khao khát sự hiểu biết về công việc, khao khát công việc của cái cuốc, cái xẻng của người phu lục lộ, khao khát sự khéo léo của người ngư phủ khi kéo lưới trên tàu, khao khát cánh tay vung lên của người thợ xây cầu khi tán ốc rivet, khao khát cái xiết van tiết lưu chậm chạp của người kỹ sư, khao khát cái cách người chủ nông trại vừa reo “họ, họ,…” để thúc con lừa, vừa ghìm lưỡi cày trên rãnh đất. Chàng trai bước một mình qua đám đông, dò nhìn bằng đôi mắt háo hức, nghe ngóng bằng đôi tai tinh căng. Chàng trai bước một mình, bơ vơ.

Đường phố vắng lặng. Mọi người đã tràn xuống métro, leo lên xe điện, xe bus; trong các nhà ga, họ nhốn nháo tìm các chuyến xe về ngoại ô; họ quay về chung cư, bước vô thang máy để lên căn hộ của mình. Trong tủ kính, hai mannequin màu vàng trong bộ quần áo giản dị làm nổi bật cô mannequin đang khoác chiếc đầm dạ hội màu đỏ; trong góc, những người thợ hàn đeo mặt nạ cúi vào những tia lửa xanh sửa chữa đường ray; vài gã lang thang say rượu đi khật khưỡng; một khách bộ hành buồn bã đang âu lo dưới ánh đèn. Nơi bờ sông, tiếng kêu ầm ầm của chiếc tàu hơi nước vẳng đến khi tàu rời bến. Tiếng còi tàu vang lên từ phía xa.

Chàng trai bước một mình, bước nhanh nhưng không quá vội, về phía xa, nhưng cũng không quá xa (những khuôn mặt lướt qua; những lời chuyện trò đang biến thành những cuộc cãi vả; những bước chân gõ nhẹ trên lối đi); chàng phải đón chuyến métro cuối; bắt xe điện, xe bus; chạy lên những chiếc ván cầu của mọi con tàu hơi nước; đặt phòng ở mọi khách sạn; làm việc trong thành phố; trả lời các mục rao vặt, học cách kiếm sống; đảm nhận nhiều công việc; sống trong mọi nhà trọ; ngủ trên mọi chiếc giường. Một chiếc giường không đủ; một công việc không đủ; một cuộc đời không đủ. Đêm đến, đầu cứ chấp chới vì những nhu cầu đời sống; chàng bước một mình, bơ vơ.

Không việc làm. Không đàn bà. Không nhà cửa. Không thành phố.

Chỉ đôi tai bận rộn với lời nói là không cô đơn; đôi tai dính chặt với những lời nói, những lời đùa cợt, những âm điệu trầm bổng của một câu chuyện, sự cộc cằn của một câu nói; lời nói cuộn quanh các tòa nhà của thành phố, lan ra khắp vỉa hè, tràn dọc theo đại lộ, chạy theo xe vận tải đang băng qua đêm dài trên những con đường cao tốc ì ầm, thì thầm từ những con đường phụ xẻ ngang các trang trại lâu đời, hòa mình vào chốn thị thành, vào trạm xăng, vào nhà ga, vào tàu hơi nước, vào những chiếc máy bay đang dò dẫm trên phi đạo; lời nói vọng đến các thảo nguyên miền cao, xuôi chảy theo dòng sông đang vươn mình ra biển cả và những bãi bờ thinh lặng.

Không phải vào những cuộc bộ hành ban đêm qua những đám đông xô đẩy nhau mà khiến chàng cảm thấy ít bơ vơ; cũng không phải nơi trại huấn luyện ở Allentown, hoặc cái ngày đứng trên các bến tàu của thành phố Seatle, hoặc những lúc bụng đói vào những đêm hè oi ả ở thành phố Washington thời niên thiếu, hoặc trong bữa ăn trên đường Market, hoặc tại buổi vượt hẽm núi đá đỏ ở San Diego, hoặc trên chiếc giường đầy bọ chét ở New Orleans, hoặc dưới cơn gió rét cắt da bên bờ hồ, hoặc trong những khuôn mặt ảm đạm đang rung lên trong tiếng động của xe cộ chạy trên đường bên dưới đại lộ Michigan, hoặc trong những toa dành cho người hút thuốc trên chuyến tàu tốc hành, hoặc khi đi bộ ở vùng thôn quê, hoặc lúc cưỡi ngựa nơi những hẽm núi cỗi cằn, hoặc vào những đêm không có túi ngủ dọc con đường băng giá bên dòng Yellowstone, hoặc những buổi Chủ Nhật lướt thuyền trên dòng Quinnipiac;

Mà [chàng cảm thấy ít bơ vơ] trong những lời kể của mẹ về thuở xa xưa, trong lời kể của cha về ngày tôi còn bé, trong những câu chuyện trẻ thơ về chú bác, trong những lời nói dối mà những đứa con nít nói nơi trường lớp, trong những câu chuyện bịa của người làm thuê, trong những mẩu chuyện khó tin mà những người lính thường kể buổi cuối ngày;

Chính những lời nói đó đọng lại mãi trong đôi tai chàng; chính sự nối kết đó sục sôi trong huyết quản chàng; ôi, nước Mỹ.

Nước Mỹ là một phần của lục địa. Nước Mỹ là tập hợp của các công ty, của nghiệp đoàn; nước Mỹ là hệ thống luật pháp, là mạng lưới phát thanh, là chuỗi rạp chiếu phim, là cột chỉ số chứng khoán được nhân viên của Western Union bôi xóa và ghi chép trên bảng đen, là thư viện công cộng đầy ắp báo cũ và những cuốn sách lịch sử sờn góc với những lời bình phẩm bằng viết chì chi chít bên lề. Nước Mỹ là nơi của thung lũng sông lớn nhất thế giới được núi đồi vây quanh; nước Mỹ là những viên chức to mồm có quá nhiều tài khoản trong ngân hàng. Nước Mỹ là những người đàn ông mặc quân phục được chôn cất trong nghĩa trang Arlington. Mước Mỹ là những chữ cái cuối dòng địa chỉ mỗi khi bạn đi xa. Nhưng trên hết tất cả, nước Mỹ chính là giọng nói của người dân của nó.